Bích Huyết Kiếm

Kim Dung


Hồi 1

Ðường đời gian hiểm

Dân chúng đồ thán

 

Mặt trời sắp lặn, đàn quạ đang bay về tổ. Trên con đường cái quan nối liền tỉnh thiểm Tây với Tần Lĩnh có một thiếu niên thư sinh đang cỡi một con ngựa trắng, vừa đi vừa ngắm phong cách vẻ mặt rất hớn hở. Thư sinh có tuổi chưa đầy hai mươi, tay cầm roi ngựa vừa lẩm bẩm ngâm nga: “Cảnh mặt trời lặn đẹp biết bao, tiếc thay không tồn tại được lâu”.

Theo sau chàng có một tiểu đồng tuổi chừng mười ba mười bốn cỡi một con ngựa gầy còm. Trên mông ngựa của y có cột một bọc sách lớn và một bó hành lý. Thằng nhỏ Thấy trời sắp tồi đến nơi mà công tử vẫn đi thủng thẳng, nó bèn lên tiếng thúc giục:

- Thưa công tử, nghe nói đường này không được yên lắm, nếu tối hôm nay chúng ta không đi kịp tới thị trấn ngủ trọ, lỡ gặp phải đạo tặc thì nguy tai lắm đấy.

Thư sinh nọ nghe tiểu đồng nói xong tủm tỉm cười, giơ roi lên quất vào mông ngựa một cái. Con ngựa của chàng cất vó phi chạy ngay.

Công tử ấy họ Hầu tên là Triều Tôn biệt tự là Phương Vực, người huyện Thương Khán tỉnh Hà Nam. Năm đó là năm Sùng Tinh ngũ niên. Hầu công tử xin phép cha mẹ ra ngoài du học. Hồi bấy giờ quan Thái giám Nguy Trung Hiền đã bị xử trảm. Nhưng thiên hạ loạn lạc, đường đi không được bình yên, đạo tặc nỗi lên như kiến cỏ. Cha mẹ cũa chàng không cho phép chàng đi, nhưng chàng cứ khăng đòi đi, và thưa rằng:

- Ðại trượng phu phải đọc sách, muốn cuốn đi vạn dặm đường, thì trong đầu óc mới học hỏi nhiều và hiểu nhiều được chứ.

Thế là cha mẹ chàng đành phải cho chàng đi. Hầu công tử là người có tài và rất can đảm chàng liền đem theo Hầu Khang, một tiểu đồng vẫn hầu hạ mình.

Chàng với tiểu đồng hai người cỡi hai con ngựa đi thẳng về phía tây. Ngày hôm nay chàng vừa đi tới chân núi Chung Nam, suốt dọc đường chàng chỉ gặp những nông dân mặt vàng khè người ốm yếu và thỉnh thoảng lại còn thấy những xác của những người chết đối nằm ngổn ngang bên dọc đường nữa. Chàng còn thấy có cái xác mồm ngậm đầy cỏ xanh và đất khô.

Thoạt tiên chàng còn bố thí tiền bạc cho những người nghèo đó. Nhưng sau thấy nạn nhân nhiều như vậy nên thôi. Khi tới gần chân núi, thấy cảnh sắc tuyệt đẹp chàng quên thảm trạng của lũ dân nghèo rồi cứ thế phóng ngựa vừa đi vừa thưởng thức.

Chàng thúc ngựa đi đượ một quãng đường, thấy sắc trí càng ngày càng tối đen, trong lòng lo âu vô cùng càng thúc ngựa chạy nhanh thêm. Chạy thêm được mười mấy dậm đường nữa chàng với tiểu đồng tới một thị trấn nhỏ, hai thầy trò mừng rỡ vô cùng, vội tìm khách sạn để ở trọ. Ngờ đâu phố xá vắng tanh. Hai thầy trò không thấ một bóng người nào hết. Ði tới trước một khách sạn thấy có tấm bảng đề “Trung Nam Khách Sạn”, Hầu Khang xuống ngựa lớn tiếng hỏi:

- Này, phổ ky đâu? Chưởng quầy đâu?

Y đứng chờ giây lát cũng không thấy bên trong có động tịnh gì hết. Ðang lúc ấy một luồng gió bắc thổi tới có tiếng kêu “rào rào”. Hai thầy trò Triệu Tôn đều rùng mình rợn tóc gáy. Chàng vội rút thanh kiếm đeo ở trên vai xuống xông thẳng vào trong khách sạn đó, liền thấy trong nhà có hai cái xác nằm ngỗn ngang trên vũng máu bầm, và có rất nhiều rồi đang bay quanh hai cái xác đó mùi hôi thúi xông lên. Chàng đoán chắc hai cái xác này chết đã lâu rồi. Hầu Khang thấy vậy la lớn một tiếng rồi chạy luôn ra ngoài cửa thềm. Triều Tôn đưa mắt nhìn bốn xung quanh, thấy đồ đạc bừa bải trên mặt đất, cửa ngõ cũng đổ nát, hình như đã bị giặc vào càn quét. Hầu Khang thấy chủ nhân mãi không ra, y lại quay trở vào tìm kiếm. Triều Tôn thấ tiểu đồng vào liền nói:

- Chúng ta đi nơi khác xem thử nào.

Ngờ đâu hai người đi khắp thị trấn thấy nhà nào cũng đều thế cả.

Hai người còn thấy những xác của thiếu nữ lõa lồ, chứng tỏ nạn nhân đã bị cường đạo hãm hiếp xong rồi lại giết luôn. Cả thị trấn đồ sộ như thế mà đâu đâu cũng chỉ có gió lạnh thổi rùng mình, mùi hôi thối nực mũi cả hai chịu không nổi, cứ buồn nôn buồn ọe luôn. Lúc này dù Triều Tôn có can đảm đến đâu cũng không dám ở lại đó nữa và vội lên ngựa chạy thẳng về phía tây ngay.

Hai thầy trò không nói nửa lời chạy luôn mười mấy dặm đường vừa đói vừa sợ. Dang kinh hoảng và lo âu thì Hầu Khang bỗng lên tiếng nói:

- Công tữ xem kìa!

Triều Tôn nhìn theo về phía tay chỉ của tiểu đồng thì từ đằng xa có ánh sáng lửa, cả mừng và nói:

- Chúng ta tới chỗ đó nghỉ nhờ đi.

Hai người liền rời khỏi ngõ cái quan đi thẳng về phía có ánh sáng lửa. Hai người càng đi càng thấy đường gồ ghề khó đi. Triều Tôn bỗng nói:

Nếu nơi đó lại là ổ cướp thì thầy trò chúng ta lại dấn thân vào chỗ chết mất.

Hầu Khang giật mình và nói:

- Nếu vậy chúng ta đừng đến nữa.

Triều Tôn thấy mây đen đã bao phủ đầy trời cơn mưa sắp tới nơi nên chàng nói tiếp:

- Chúng ta cứ lẳng lặng tới đó xem sao.

Thế rồi chàng xuống ngựa cột ngựa vào gốc cậy ở bên cạnh đường, rón rén đi tới phía cá ánh sáng lửa. Khi chàng tới mới hay nơi đó là hai căn nhà lá, cả hai mới yên tâm được phần nào. Chàng đang định đi tới chỗ cửa sổ để ngó vào bên trong xem sao, ngờ đâu chàng chưa tới gần đã có một con chó to nhảy sổ tới sủa vang. Chàng vội múa lộng thanh kiếm nên con chó ấy mới không dám tới gần, cứ đứng ở đó sủa.

Bỗng cánh cửa mở toang bà cụ ở bên trong bước ra, tay cầm một ngọn đèn ra, vội giọng run run hỏi chàng là ai.

Triều Tôn liền đáp:

Chúng tôi là khách qua đường định vào quý phủ xin ngủ nhờ một đêm.

Bà cụ lại tiếp:

- Vậy mời quý khách hãy vào trong nhà.

Triều Tôn đi vào trong nhà lá ấy thấy đồ đạc trong nhà đó rất giản dị, ngoài mấy cái sập bằng đất ra thì không còn cái gì nữa. Trong nhà có một ông cụ đang ho luôn mồm, Triều Tôn bảo Hầu Khang đi giắt ngựa tới. Tiểu đồng nghĩ đến những tình cảnh thãm khốc hồi nãy sợ sệ không dám đi. Ông già liền xuống dẫn y ra bên ngoài để giắt con ngựa vào. Bà cụ lấy miếng bánh khô ra và pha một bình nước cho hai thầy trò uống.

Triều Tôn ăn sao nổi những thứ đó, chàng chỉ cắn một miếng đành phải bỏ giở hỏi:

- Thị trấn ở đằng kia bị bọn giặc nào đến càn quét và giết chóc thảm thiết thế lão trượng?

Ông già thở dài rồi đáp:

- Có phải là giặc cỏ gì đâu, vì giặc cướp làm gì có ác độc như thế? Ðó là bọn quan binh tạo nên đấy.

Triều Tôn nghe nói giật mình kinh hãi hỏi tiếp:

- Quan binh à? Sao quan binh lại lộng hành đến thế? Chúng đang tâm chém giết như vậy mà quan trên của chúng cứ để cho chúng làm càn như thế hay sao?

Ông già cười nhạt một tiếng rồi đáp:

- Có lẽ Triều tướng công này mới đi ra bên ngoài lần đầu chắc? Cho nên tướng công mới không hiểu một tí gì như tướng công tưởng.

Quan quân là người biết giữ luật pháp và quyền hành lắm hay sao? Chính những quan trên của chúng lại còn ra tay cướp giật những thứ gì quý báu nhứt, hãm hiếp những người đàn bà nào đẹp nhất.

Triều Tôn lại hỏi tiếp:

- Sao dân chúng không lên trên phủ mà kiện chúng?

Ông già đáp:

- Kiện chúng có ích lợi gì đâu? Không kiện thì còn amy ra thoát thân, bằng không cứ tự tiện nộp đơn đi kiẹn lại còn bị chúng cướp phá đánh đập tàn nhẩn hơn.

- Sao lại có chuyện lạ lùng như thế?

Không những thế, người nào đó kiện chúng chưa thấy quan phủ phạt chúng mà mình đã bị đánh một trận đòn, rồi còn bị giam vào trong tù nữa. Nếu mình không có tiền hối lộ thì đừng có mong còn sống trở về vợ con.

Triều Tôn nghe thấy ông già nói như vậy lắc đầu hoài và lẩm bẩm tự nói:

- Không ngờ, quan lại của tỉnh Thiểm Tây này lại tồi bại đến như thế?

Chàng lại hỏi tiếp:

- Quan binh vào trong khu rừng núi này làm chi?

- Chúng nói là vào trong khu núi để tiện giết giặc, nhưng sự thực bọn đạo tặc là quân áp bức đến nỗi hết đường kiếm ăn nên mới phải đi làm giặc như vậy. Quan binh bắt không nổi đạo tặc liền giết bừa mấy người dân lành, để lấy mấy cái thủ cấp đem về lãnh công, thuận tay chúng cướp bóc một hồi lấy tiền đem về để đút lót quan để thăng quan tiến chức.

Ông già càng nói càng tức giận nghiến răng kêu “kèn kẹt”, bà cụ cứ xua tay ra hiệu bảo ông ta đừng nói nữa, vì bà ta sợ Triều Tôn là quan quân sợ chồng mình nói nhiều sẽ bị gây họa và thân.

Triều Tôn nghe ông già nói xong buồn bực và không vui, vì ông tổ của chàng làm quan thái thượng ở trong triều, cha chàng là quan tư đồ đều là những quan cao chức trọng đấy nhưng bây giờ đã xin về hưu quy ẩn rồi. Chàng có ngờ đến các quan binh ở bên ngoài lại tồi bại đến thế.

Chàng nghe nói người Mãn Châu ở Liêu Ðông vẫn thường đem binh vào phá bờ cõi, quan binh chống cự không nổi ngọai xâm lại ở nhà tàn sát dân lành như vậy, chàng thở ngắn thở dài một hồi liền ngã lưng ra sạp ngũ luôn trong lúc mơ mơ màng màng bỗng nghe thấy bên ngoài có tiếng chó sủa và ngựa hí, tiếp theo đó chàng còn nghe thấy có người đập cửa nữa.

Bà cụ xuống sập đi ra mỡ cửa, ông cụ thấy vậy ngăn cản vá nói với Triều Tôn rằng:

- Tướng công hãy ra phía sau ẩn núp đi thì hơn.

Triều Tôn với Hầu Khang liền chạy ra luôn phía sau nhà, hai người thấy mùi rơm rạ xông lên mũi, mới hay nơi đó là phòng chúa của và rơm, hai người vừa ẩn núp xong đã nghe thấy tiếng kêu “lách cách” thì ra cánh cửa lớn đã bị người bên ngoài đẩy gẫy đỗ và có một người lớn tiêng quát mắng:

- Sao gọi mãi không mở cửa thế?

Không đợi ông già trả lời người đá đã tát cho ông già một cái kêu đến bộp một tiếng, bà cụ liền lên tiếng:

- Thưa quan lớn... vợ chồng... chúng tôi.. già nua lẫm cẫm nên... không nghe thấy các ngài gọi cửa.. ngờ đâu bà cụ lại bị đánh.

Bà cụ lại bị đánh một cái tát, người nọ lại quát mắng chửi:

- Không nghe thấy mới đáng bị đánh như vậy? Mau giết gà làm cơm cho bốn người ăn ngay đi.

Ông già vội đáp:

- Chúng tôi sắp chết đói tới nơi, làm gì có gà mà giết làm cơm cho quí vị.

Hai thầy trò Triều Tôn lại nghe thấy có tiếng kêu “bùng” một tiếng hình như ông già lại bị đẩy ngả vậy, và tiếng bà cụ khóc lóc kêu ca.

Sau lại nghe thấy một tên nữa quát bảo:

- Thôi. Lão Vương buông tha cho vợ chồng chúng, ngày hôm nay chúng ta xui thật đi cả ngày mới thâu được có hai mươi mấy lạng bạc ngân thuế. Ai nấy cũng đâm bực mình hết chừng còn đem ông bà già ấy ra đánh đập làm chi?

Tên nọ nói rằng:

- Những hạng người này chúng ta không cứng rắn một chút chúng không kiêng nể đâu. Ngay như hai mươi mấy lạng bạc thâu được đó, nếu không phải đã đánh gãy chân anh chàng nhà quê ấy, thì khi nào y chịu ngoan ngoãn nộp tiền thuế cho chúng ta.

Lại một người nói với giọng khèn khàn đỡ lời, nhưng người nhà quê nghèo nàn thực, con gái mười mấy tuổi mà không có quần mặc. Như vậy họ lấy tiền đâu ra mà nộp thuế chứ. Nhưng chúng ta không thâu được lại bị quan mắng chửi bảo chúng ta vô dụng...

Người đó đứng nói tới đây thì bỗng nghe tiếng ngựa của Triều Tôn kêu, mấy tên công sai giật mình kinh hãi vội ra cửa điều tra xem, chúng thấy con ngựa liền bàn tán xôn xao, có tên nói:

- Người cưỡi ngựa thế nào cũng ở trong nhà này như vậy chúng ta lại kiếm được một món bỡ rồi, nên tên nào tên nấy mừng rỡ và cùng tiến vào trong nhà khám xét.

Triều Tôn cả kinh liền kéo tay Hầu Khang lên ra cửa sau đi mất. Hai thầy trò chân cao chân thấp cứ cắm đầu chạy vào trong mái thấy không có người đuổi theo hai thầy trò mới yên trí và cũng may tiền bạc đều cột cả ở trên lưng Hầu Khang. Hai người ở trong bụi cây ẩn núp một đêm chờ trời sáng rõ mới đi ra ngoài tới đường cái quan. Hai thầy trò cứ lần theo con đường cái quan mà đi hơn mười dặm, rồi quyết định tới thị trấn phía đằng trước hãy mua ngựa để cỡi sau Hầu Khang vừa đi vừa mắng chửi bọn công sai hoài. Trong khi đang chửi đổng luôn mồm thì bỗng có bốn tên công sai ở bên đường ngách bước ra tay cầm xích sắt và thước sắt, phía sau lại có hai người lại giắt một con ngựa.

Hai thầy trò Triều Tôn đã nhận ra ngựa đó chính là con ngựa của mình nên hai thầy trò cũng ngẫn người ra. Lúc ấy hai thầy trò muốn tránh cũng không kịp nữa, đành phải làm như không có việc gì xảy ra và cứ đi thẳng về phía trước. Bốn tên công sai cứ ngắm nghía hai người hoài rồi một tên mặt vàng khè liếc mắt nhìn Triều Tôn hỏi:

- Nè, hai người kia làm nghề gì thế?

Triều Tôn nghe lời nói của người đó biết ngay người này chính là lão Vương mà tối hôm qua đánh ông bà già, Hầu Khang liền tiến lên một bước đáp:

- Vị này là công tử của chúng tôi định lên núi Chung Nam du ngoạn.

Lão Vương túm lấy ngực Hầu Khang và nhanh tay cướp luôn bọc đó cột trên vai rồi mở luôn ra xem ngay. Chúng thấy bên trong có rất nhiều vàng bạc liền động lòng tham và quát hỏi:

- Cái gì công tử với công tôn chắc hai người thế nào cũng là đồng bọn với lũ cường đảng nến mới tới chốn này. Người phải khai thật có đúng như vậy không?

Hầu Khang tái mặt, nhưng cố lấy sự bình tĩnh:

- Bẩm đại quan không phải thế.

Lão Vương quát:

- Chứ thế nào hãy khai mau?

Hầu Khang đáp:

- Bẩm đại quan, công tử của tôi là con nhà giàu sang, quyền quý, nhân những ngày nghỉ học nhà rỗi đi du ngoạn tới đây chứ đâu phải đồng bọn với bọn cường san, xin đại quan thẩm xét lại.

Lão Vường hầm hừ:

- Như thế các người lên núi để tiếp tế cho bọn cường san phải không?

Hầu Khang sợ hãi:

- Bẩm đại quan không phải vậy.

Lão Vương giận dữ quát:

- Thế tại sao các người mang vàng bạc nhiều thế nầy bảo không phải tiếp tế cho lũ cường san?

Hầu Khang càng thêm kinh hãi:

- Bẫm đại quan mấy ngày trước công tử tôi tới thị trấn trước kia thăm một người khi về người sư thúc tặng số vàng, bạc nầy cho công tử tôi làm lộ phí.

- Ngươi nói láo.

- Bẩm đại quan, tôi nói thật. Tôi nói dối Vương đại quan đất trời tru lục cả gia đình tôi.

Lão Vương đưa cặp mắt cú vọ nhìn Triều Tôn rồi nhìn lại Hầu Khang như để dò xét sự thật. Sau đó lão gật gật đầu:

- Bây giờ ta cũng tạm tin theo lời nói của ngươi, nhưng số vàng bạc nầy ta mang về sở tại xét lại coi có đúng như lời của ngươi vừa khai hay không, nếu không, ta sẽ trã lại.

Hầu Khang cũng là một tay có bản lĩnh hiễu rõ lão Công sai họ Vương nầy muốn chiếm đoạt số vàng bạc kiếm cớ nói ra như thế chứ có đời nào bọn công sai nầy buông bỏ miếng mồi béo bở.

Nhưng gã vẫn cúi đầu:

- Vâng! Bọn tại hạ xin đa tạ đại quan.

Lão Vương trỏ tay vào mặt Hầu Khang doạ:

- Nếu sau nầy ta tìm ra manh mối hai người có thông đồng với bọn cường san thì đừng trách ta sao ác độc.

Nói rồi lão Vương cùng ba tên Công sai kia đi qua một ngõ, Hầu Khang biết bọn chúng tìm chỗ chia vàng bạc.

Dù đã bị mất hết số vàng, bạc mang theo nhưng vẫn còn sinh mạng, Hầu Khang nói mau:

- Công tử chạy nhanh lên kẻo bọn chúng đổi ý là khốn mất.

Chưa dứt câu gã đã chạy đi, Triều Tôn cũng gấp rút chạy theo. Hai người rẽ sang một con đường mòn vào trong núi để tìm đường ra quan lộ trở về gia trang.

Chỉ vì trong vùng nầy bọn Công sai đã bố trí khắp nơi không thể nào qua lọt được.

Hầu Khang hướng dẫn Triều Tôn chạy được một lúc, thình lình nghe ở phía sau có tiếng vó ngựa đuổi theo.

Tiếng vó ngựa mỗi lúc một gần chứng tỏ đang đuổi theo thầy trò Hầu Khang và Triều Tôn.

Triều Tôn hốt hoảng:

- Hầu Khang, bọn công sai đuổi theo chúng ta kìa.

Hầu Khang giục:

- Công tử chạy mau bọn chúng sắp tới nơi rồi.

Triều Tôn vì quá sợ hãi luống cuống cả hai chân như không còn có thể chạy, Hầu Khang quay trở lại, cắp lấy cánh tay Triều Tôn chạy đi mau.

Tới một chỡ kia, gã hấp tấp bảo:

- Công tử, bọn chúng sắp đến nơi rồi không thể nào chạy kịp nữa.

Triều Tôn run run:

- Chúng ta làm sao bây giờ?

Hầu Khang trỏ tay về phía trái vách núi:

- Chúng ta hãy trốn trong cái hốc đá đó.

Gã kéo cánh tay Triều Tôn vào nách, chạy nhanh hơn trước trong khi vó ngựa đã tới gần.

Ðến hốc đó khá rộng, Hầu Khang thúc hối:

- Công tử vào nhanh đi.

Gã lôi tuột Triều Tôn vào trong hốc đá. Hốc đá nầy chỉ vừa chừng người thôi, rong rêu lâu ngày, nghe mùi ẩm mốc.

Hầu Khang và Triều Tôn quay mắt ra nhìn nín thở đọi chờ.

Người kỵ mã chạy tới, phía sau có dắt theo con ngựa dừng lại gần hang cốc.

Hầu Khang và Triều Tôn nín thở nhìn ra ngoài thấy người cỡi ngựa không phải là bọn công sai và hắn đi một mình.

Nhưng người nầy lạ mặt không hiểu hắn thuộc hạng người nào có phải là cường đạo hay không.

Vừa thoát nạn bởi bọn công sai giờ nếu rơi vào tay cường đạo họa đâu phải nhỏ.

Ngườikỵ mã nầy trên tay cầm cây dao sáng ngời đưa mắt nhìn quanh mấy lượt.

Hắn lẩm bẩm:

- Ừ! Hai người chạy đi ngã nào, ta định trả ngựa lại sao không thấy.

Nhưng hắn đã reo lên:

- Ồ! Hai vị ra đây còn ở chi trong đó.

Biết không thể trốn được. Hầu Khang và Triều Tôn bước ra ngoài.

Người đàn ông trỏ hai con ngựa:

- Ngựa nầy có phải của hai vị không?

Hầu Khang gật đầu, người nầy bảo:

- Hảy nhận ngựa lại đi, ta vừa bắt lại cho các người đó.

Hầu Khang chưa phản ứng, thình lình bọn bốn người lão vương kia phi ngựa tới. Lão quát:

- Thằng cường san trộm ngựa, ngươi chạy đi đâu.

Lão múa đoản đao chém vào đầu người kỵ mã mấy nhát. Người nầy khoa cây đao dài đỡ.

Rãng!

Lão Vương bị hất ra phía sau, thanh đoản đao rời khỏi bàn tay lão. Công lực người kỵ mã rất cao cường.

Ba tên công sai kia thét to cùng lượt múa đao tấn công người kỹ mã.

Người kỹ mã cười khỉnh một tiếng vạch cây đao dài nửa vòng, tiếp đó có mấy tiếng rú lên. Ba tên công sai té quỳ bỏ cả đao.

Lão Vương ngó thấy kinh hoàng trố mắt nhìn rồi bỏ mặc cho đồng bọn sống hay chết cùng tên họ Vương quay đầu ù té chạy liền.

Khách cỡi ngựa thấy vậy ha hả cười vứt đơn đao xuống đất đang định nhảy lên trên ngựa. Triều Tôn vội chạy lại cám ơn và hỏi tính danh. Khách cỡi ngựa giận dữ nhìn hai tên công sai đang nằm rên rỉ kêu đau ở trên mặt đất rồi quay lại nói với Triều Tôn rằng:

- Nơi đây không phải là chỗ nói chuyện, xin mời công tử hãy lên ngựa, chúng ta vừa đi vừa chuyện trò vậy!

Hầu Khang liền dắt ngựa tới rồi cả ba người cùng lên ngựa tiến thẳng về phía trước.

Vừa đi, Triều Tôn vừa nói rõ gia thế và tên họ cho người nọ hay. Khách cỡi ngựa liền đỡ lời:

- Thế ra, là Hầu công tử! Tại hạ họ Ðường tên Bàng Cử. Người giang hồ vẫn gọi tại hạ là Ma Vân Kim Xí! Tổng tiêu đầu củ Hội Võ Tiêu Cục.

Triều Tôn vội cảm ơn:

- Ngày hôm nay nếu không được các hạ ra tay cứu giúp thầy trò chúng tôi chắc đã toi mạng rồi!

- Tốt hơn hết công tử nên mau trở về đi! Rồi thương lượng vớilệnh tôn liễu kết vụ án này. Vì bọn công sai âm độc lắm. Nếu không nghĩ cách đối phó chúng trước, đến khi bị chúng cản trở lại thì phiền lắm!

Còn chúng không biết tên của tại hạ ra sao, rồi tất cả mọi việc chúng sẽ dò hết lỗi vào công tử đấy!

Triều Tôn nghĩ cũng phải và chàng cũng hết du hứng rồi, liền đáp:

- Dương huynh chỉ giáo như vậy rất phải, vậy Dương huynh cho phép tiểu để đi cùng với Dương huynh về phía đông nhé!

Bàng Cử gất đầu nhận lời. Hai ngày liền Hầu Khang bị hoãng sợ đến mất hết hồn vía, bây giờ y được một tiêu khách đi cùng cho nên khoái chí và yên tâm khôn tả!

Ba người đi được hơn ba mươi dặm, tìm không thấy chỗ trọ Bàng Cử liền lấy lương khô ra cho thầy trò Triều Tôn ăn.

Hầu Khang đi kiếm một cái nồi vỡ nhặt ít củi khô định đun ít nước đễ uống, thì bỗng nghe thấy phía sau lưng có tiếng người quát tháo:

- Cường đạo ở đây rồi!

Hầu Khang giật mình đến thót một cái, tay run lẩy bẩy nước trong nồi đều hất cả vào đống củi. Bàng cữ quay đầu lại nhìn thấy một tên công sai hồi nãy phóng ngựa đi trước, y dẫn mười mấy quân binh đều cỡi ngựa đuổi theo tới. Chàng liền bão thầy trò Triều Tôn rằng:

- Mau lên ngựa!

Thế rồi ba người cùng nhảy lên mình ngựa phóng đi luôn.

Bàng Cử nhường cho hai thầy trò di trước, còn chàng thì rút thanh đơn đao ra, đi sau yếm hộ. Bọn quan binh liền la lớn:

- Bắt lấy cường đạo!

Chúng vừa quát tháo vừa phóng ngựa đuổi theo. Bằng cử thấy quan binh càng đuổi càng gần, và chúng lại còn bắn tên theo chàng vội múa đao gạt rớt những mũi tên đó. Ðang khi ấy chàng thấy ở phía trước bỗng có một con đường nhỏ, liền bảo thầy trò Triều Tôn rằng:

- Mau chạy sang đường nhỏ!

Thầy trò Triều Tôn liền rẽ luôn sang con đường nhỏ đó mà chạy, bọn quan binh vẫn đuổi theo riết, tên công sai nọ còn quát tháo tiếp:

- Ðuổi đi! Bắt được chúng sẽ có tiền bạc chia nhau ngay!

Bàng Cử thấy bọn quan binh săn đuổi tới gầnliền dừng ngựa quay đầu lại quát lớn một tiếng rồi múa đao chém luôn.

Tên công sai họ vương hoảng sợ, vội lui về phía sau còn những quan binh khác thì múa thương xông lại đâm liều.

Bằng Cừ không dại gì lại đối địch với nhiều người như thế, nên chàng vừa đấu vừa rút lui. Ngờ đâu trong lúc hỗn chiến chân chàng bị một mũi thương đâm trúng.

Tuy vết thương không nặng lắm, nhưng nhuệ khí đã mất nhiều, chàng liền kẹp chặt lấy bụng ngựa, giật cương một cái, con ngựa của chàng nhảy xô về phía trước, thuận tay chàng chém một tên quân sĩ gẫy luôn một cánh tay trái. Các tên quan binh khác thấy vậy hoảng sợ đều lui ngay về phía sau, nhờ vậy chàng mới có dịp may phi ngựa chạy luôn.

Một lát sau chàng đã đuổi kịp thầy trò của Triều Tôn. Lúc ấy con đường càng ngày càng chật hẹp, các binh sĩ sợ Bàng Cử dũng mãnh nên không ai dám tới gần. ba người liền thúc ngựa chạy một hồi. Ðường núi càng ngày càng gồ ghề khúc khuỷu khó đi, ba người chỉ còn văng vẳng nghe thấy tiếng hó hét của bọn quan binh thôi chứ không thấy hình bóng của chúng đâu cả.

Ðang lúc ấy, ba người thấy trước mặt hiện ra ba con đường nhỏ Bàng Cử liền khẽ quát:

- Mau xuống ngựa!

Rồi ba người cùng nhảy xuống và dắt ngựa chui vào trong bụi ẫn núp. Vừa núp xong, ba người đã thấy bọn quan binh đuỗi tới.

Lão Vương đang phân vân thì tên quân sĩ dẫn đầu đã rẽ sang một con đường khác tìm kiếm. Bàng Cử vội nói:

- Chúng đuỗi một lúc thế nào cũng quay trỡ lại, chúng ta hãy chạy mau lên!

Nói xong, chàng xé một mãnh áo cột chỗ vết thương ở đùi rồi cả ba đều chạy sang một con đường nhánh khác.

Một lát sau, phía sau lại có tiếng quân binh đuổi theo tới, Bàng Cử lo âu vô cùng, bỗng thấy phía đàng trước có ba căn nhà ngói, ở phía trước cửa có một nông dân đang làm lụng, chàng vội xuống ngựa đi tới trước mặt người nông dân đó và nói:

- Ðại ca! Phía sau có quan binh định giết hại chúng tôi, xin đại ca kiếm một nơi kín đáo giúp chúng tôi ẩn núp.

Nông dân đó cứ thủng thẳng cuốc đất, hình như không nghe chàng nói gì cả vậy, Triều Tôn cũng xuống ngựa van lơn. Nông dân ấy đột nhiên ngẩng mặt lên nhìn, hai mắt tia ra hai luồn ánh sáng như hai tia điện, ngắm nhìn Bàng Cử với Triều Tôn một hồi, cùng lúc ấy trong bụi cây ở phía đàng trước có tiếng sáo du dương vọng tới và có một mục đồng ấy tuổi chừng tám, chín, đầu cột một cái đuôi sam nhỏ, mặt mũi rất thanh tú khiến ai trông thấy cũng phải động lòng thương. Người nông dân liền nói với mục đồng rằng:

- Thừa Chí! Dắt ba con ngựa này vào trong núi cho chúng ăn cỏ thật no, chờ trời tối hãy cho chúng trở về.

Mục đồng đưa mắt nhìn Triều Tôn ba người một cái rồi đáp:

- Vâng!

Thằng nhỏ liền dắt ba con ngựa của ba người đi luôn.

Bằng Cũ không hiễu người nông dân làm như thế có ý nghĩa gì nhưng chàng chĩ thấy lời nói của người đó rất có oai thế khiến ai cũng không dám kháng cự và trái lệnh cả. Lúc ấy tiếng vó ngựa của quan binh đuổi theo càng ngày càng gần. Triều Tôn thấy vậy lo âu vô cùng vội hỏi:

- Biết làm sao đây? Biết làm sao đây?

Người nông dân liền đáp:

- Ba vị hãy đi theo tôi lại đây!

Nói xong, y liền dẫn ba người vào trong nhà. Triều Tôn thấy trong nhà tuy có để rất nhiều nông cụ, nhưng quét dọn sạch sẽ lấm. Ðủ thấy nhà này không phải là một nhà nông tầm thường!

Nông dân đó đi thẳng vào bên trong, đến gian phòng ngủ, ba người chỉ thấy nông vén màn lên, đễ lộ bức vách, rồi thấy người đó giơ tay lên ấn vào hai nơi trên tấm vách đó một cái, liền có tiếng kêu “kèn kẹt” vang lên, trên tường hiện ra một cái lỗ hỗng, mọi ngưòi thấy vậy đều ngẩn người ra, nông dân liền nói:

- Ði vào đi!

Ba ngưòi nghe lời theo vào bên trong, mới hay đó là một cái hang động rất lớn rộng, căn nhà bên trong là dựng theo vách núi và xây ngay ở trước hang động, nếu không giỡ căn nhà này ra thì không ai biết được ở đàng sau nhà lại có một cái hang động to rộng đến thế!

Ba người vào trong đó ẫn núp xong thì người nông dân lại ấn tay lên trên vách tường một cái, cánh cửa kín đó tự động khít lại.

Nông dân vội quay ra cuốc đất như thường. Một lát sau tên công sai đã dẫn một bọn quan binh tới, tên công sai họ vương liền lớn tiếng quát hỏi nông dân nọ rằng:

- Này! Có ba người cởi ngựa mới vừa đi qua đây phải không?

Nông dân liền chỉ con đường nhỏ gần đó và đáp:

- Có! Họ vừa mới đi qua đây và đi vào con đường ấy đấy!

Bọn quan binh liền theo con đường nhỏ ấy đuổi theo, nhưng chúng đi được bảy tám dặm, không thấy tung tích gì cả liền trở lại hỏi người nông dân, nhưng ngưòi nông dân giả bộ như câm như điếc, ăn nói ấm ớ không sao nghe rõ được.. Một tên binh sĩ liền lớn tiếng mắng chửi:

- Ð.m. hỏi tên ngu xuẩn này chỉ tốn mất thì giờ, chúng ta đi thôi!!

Thế rồi bọn quan binh ấy đi sang co đường khác đễ đuỗi theo tiếp. Triều Tôn, Bàng Cử và Hầu Khang ba người núp trong hang động văng vẳng nghe tiếng vó ngựa chạy đã xa, mới an lòng.

Một lát sau, ba người không nghe thấy tiếng động gì nữa thế mà mãi mãi vẫn không thấy nông dân mỡ cửa cho ba ngưòi ra. Bàng Cử nóng lòng sốt ruột vô cùng, vội giơ tay lên đấm vào cửa nhưng tấm cửa đó rất dày, đấm hàng nửa ngày mà cũng không thấy suy suyễn chút nào. Ở trong hang động tối om, không biết giờ giấc gì cả, ba người đành phải ngồi ở dưới đất ngủ gật, để nghỉ ngơi.

Bàng Cử thấy vết thương đau nhức cứ luôn mồm chửi bọn công sai và binh sĩ. Không biết trải qua bao nhiêu tiếng đồng hồ, cánh cửa đã bỗng xịch mở và có ánh sáng vàng ló vào.

Nông dân nọ tay cầm một ngọn nến vừa bước vào vừa nói:

- Mời ba vị vào xơi cơm!

Bàng Cử đứng dậy đi ra ngoài, thầy trò Triều Tôn theo sau cùng đi ra ngoài khách sảng. Ba người thấy trên bàn gỗ để ở giữa nhà bày sẵn một bát canh ra, một đĩa đậu phụng nóng hổi, ngoài ra lại còn có ba con gà nóng hổi nửa. ba người thấy ngoài nông dân và mục đồng ra lại còn có ba người nữa cũng ăn mặc theo lốinhà nông. Năm người đang đứng đợi chờ cả ở khách sảng. Triều Tôn với Bàng Cử ba người vội chắp tay cảm tạ và tự nói tên họ của mình cho mấy người đó nghe. Nghe thấy cái tên Kim Xí Dường Bàng Cử, hình như mấy người nông dân đó không tỏ vẻ ngạc nhiên gì cả, nhưng khi họ nghe nói là con của Hầu Tư Ðồ thì cùng đưa mắt nhìn nhau một cái rồicùng hỏi thăm tình trạng của Hầu Tư Ðồ gần đây ra sao?

Triều Tôn theo đúng sự thật nói cho mấy người đó nghe và hỏi tên họ mấy người nông dân ấy, một người mặt gầy gò, tuổi ngoài 50 liền đáp:

- Tiểu nhân họ Ưng.

Y nói xong, liền chỉ người nông dân đã đưa bọn chàng đi ẩn núp và nói tiếp:

- Vị này họ Chu.

Còn một người nữa, thân hình vừa gầy vừa cao tự xưng là họ Nghê, còn người béo lùn là họ La. Triều Tôn lại nói tiếp:

- Tôi tưởng quý vị là người cùng một gia đình với nhau, ngờ đâu, quý vị lại khác họ.

Người họ Ưng đáp:

- Vâng, chúng tôi là bạn với nhau cả.

Triều Tôn thấy họ ít ăn nói, nhưng thái độ cử chỉ không giống nông dân thường. Người họ Chu với họ Nghê, cử chỉ và ăn nói rất còn oai nghị là khác, còn người họ Ứng thì khí độ rất cao quý, hình như y là người có học rất rộng.

Triều Tôn dùng lời lẽ dò hỏi người họ Ứng đó mấy câu. Nhưng thấy người đó không những không trả lời mà còn hình như là không hiểu nữa. Nhưng xem dáng điệu của họ thì lại như là giã bộ. Ăn no xong, người họ Ứng mới hỏi Triều Tôn tại sao lại bị bọn quan binh đuổi theo như thế. Triều Tôn liền kể hết đầu đuôi câu chuyện cho mấy nông dân ấy nghe. Chàng là người có tài hoa, nên trong khi mô tả những thảm trạng mà mình mục kích ở dọc đường và hững tình cảnh của bọn công sai ức hiếp lương dân v.v... Khiến ai nghe chàng kể cũng tưỡng tượng như sự thật đang diễn ra trước mắt vậy. Người họ Nghê nghe xong, tức giận đến đập mạnh xuống bàn một cái, râu tóc đều dựng ngược, mở mồm định mắng chửi thì người họ Ứng đã đưa mắt ra hiệu, nên y vội nín ngay. Triều Tôn lại kể đến chuyện Bàng Cử cứu giúp thầy trò mình như thế nào và còn khen ngợi Bàng Cử một hồi. Bàng Cử có vẻ đắc chí vội đỡ lời:

- Câu chuyện vừa rồi có nghĩa gì đâu, thiết nghĩ năm xưa ở Sơn Tây một mình tôi bắn chết Tấn Bắc Tam Hung, lại còn khủng khiếp hơn chuyện vừa xẩy ra hồi nãy nhiều.

Thế rồi, y liền kể lại lúc ấy tình thế nguy cấp như thế nào, y anh dũng ra sao, sắp bị đánh bại đến nơi mà lại còn thắng được đối phương giết chết luôn ba tên đại tặc v.v... Càng kể y càng khoái chí và còn kể lại những chuyện của mình ở trên giang hồ trong mười năm nay lừng lẫy ra sao hết sức khoe khoang và tự cho mình là anh hùng cái thế. Y lại còn nói những cường đạo hễ thấy mặt y là không dám tới, y đang nói thao thao bất tuyệt thì bỗng thấy mục đồng ngồi cạnh đó cười khúc khích một tiếng...

Bàng Cử liếc nhìn thằng nhỏ một cái, nhưng y không có vẻ tức giận gì hết. Y lại tiếp tục nói những sự tích trên giang hồ. Triều Tôn nghe y nói có vẻ thích thú lắm. Hầu Khang hãy còn ít tuổi tính trẻ con vừa nghe vừa khen ngợi và thỉnh thoảng lại hỏi một vài câu. Sau cùng Bàng Cử nói tới vỗ nghệ, giơ tay giơ chân vừa nói vừa thí dụ. Mấy người nông dân có vẻ không thích nghe nhất là người béo lùn họ La cứ ngập ngừng hoài và nói:

- Khuya rồi chúng ta đi ngủ thôi.

Mục đồng nghe nói liền chạy ra đóng cửa luôn, người họ Chu xách một tảng đá lớn để ở xó tối ra chặn cửa. Bàng Cử thấy tảng đá lớn như vậy liền thở phào một cái và nghĩ thầm:

- “Người này khoẻ thực, tảng đá ấy ít nhất cũng nặng tới bốn năm trăm cân mà y xách đi một cách nhẹ nhàng như vậy...

Họ Ứng thấy y mặt biến sắc liền nói:

- Nghiệt súc lại tới quấy rồi đấy.

Người họ Nghê liền đứng dậy nấp ở phía sau cửa lấy cây đinh ba ra rung động một cái, có hai tiếng kêu “cơng cơng” rồi lên tiếng nói:

- Hôm nay nhất định không để nó đào tẩu được nữa, Thừa chí cháu cũng đì theo chú đi.

Mục đồng nhận lời ngay chạy luôn vào trong nhà lấy một cây thương sắt nho nhỏ ra. Người họ Chu liền xách tảng đá lớn sang bên cánh cửa đã bị luồng gió thổi toang ra. Gió ở bên ngoài thổi vào đem cả mùi tanh hôi và những lá rụng, nhưng ngọn nến ở trong phòng cũng bị tắt luôn. Hầu Khang kinh hoảng thất thanh la lớn, người họ Nghê với mục đồng đã nhanh nhẹn nhảy ra ngoài cửa. Bàng Cử cầm thanh đơn đao cũng lên tiếng nói:

- Cho tôi đi với.

Y vừa bước chân ra ngoài cửa sổ tay trái của y bị người tay nắm chặt lấy. Y định dùng sức giằng tay ra, nhưng y thấy năm ngón tay của người đó cứng như sắt và nắm chặt lấy tay y, khiến y không sao cử động được. Trong bóng tối liền có giọng nói khàn khàn khẽ bảo y rằng:

- Ðừng đi ra, con hùm đó lợi hại lắm.

Bàng Cử còn định giằng co nữa nhưng người nói cứ nắm chặt lấy y, không kéo vào và cũng chẳng để cho y đi ra. Bàng Cử bất đắc dĩ đành phải ngồi xuống đất, người nọ mới chịu buông tay y ra.

Lúc ấy mọi ngưòi chỉ nghe thấy người họ Nghê quát tháo và tiếng hổ gầm. Tiếng còng đồng ở trên cái đinh ba kêu “lơng cơng” cùng tiếng lá tiếng cành cây rơi xuống đất rào rào cùng nổi lên ồn ào vô cùng. Thỉnh thoảng lại xen có tiếng quát tháo của mục đồng. Mọi người đoán chắc hai người một hổ đang kịch chiến ở bên ngoài, một lát sau những tiếng ồn ào đó, càng ngày càng xa, có lẽ con hổ đó đã bị thương và đào tẩu hai người đã đuổi theo rồi.

Người họ La liền lấy đá lửa ra để châm nến. Chỉ thấy trong nhà đầy những lá và cành cây. Triều Tôn với Bàng Cử thấy vậy kinh hãi vô cùng. Mọi người đang im lặng bỗng nghe thấy đằng xa có tiếng chân người đi tới thoáng cái mục đồng đã chạy vào trong nhà vẻ mặt hớn hở mồm thì la lớn:

- Ăn thịt hổ! Ăn thịt hổ!

Triều Tôn thấy cây đoản thương của y dính đầy máu tươi liền nghĩ thầm:

- “Y bé nhỏ như thế dũng mãnh như vậy. Mình thì tay không trói nổi con gà thực là hổ thẹn quá”.

Chàng đang suy nghĩ, đã thấy người họ Nghê bước vào, tay trái cầm đinh ba, tay phải xách con cọp rằn rất lớn. Vừa vào tới nơi y đã ném ngay con cọp xuống đất. Triều Tôn giật mình đánh thót một cái, vội chạy ngay vào bên trong. Sau chàng thấy con vật không cử động gì hết, mới hay nó đã chết rồi. Người họ Nghê vênh mặt lên bảo mục đồng rằng:

- Thừa Chí vừa rồi cháu đã đánh lầm rồi, cháu có biết không?

Mục đồng cúi đầu xuống đáp:

- Dạ, cháu không nên đứng trước mặt mà ném phi tiêu.

Người họ Nghê mới dịu nét mặt và nói tiếp:

- Ðứng phía trước ném phi tiêu, không phải là không được, nhưng cháu hãy ném hai phi tiêu cùng một lúc. Ðồng thời phải ném trúng hai mắt của nó và sau khi ném xong thì nhảy sang bên ngay. Bấy giờ cháu ném có một phi tiêu, đả thương có một mắt nó thôi. Con cọp bị thương rồi, thế nào sức vồ của nó cũng mạnh hơn trước, nếu không dùn cây đinh ba chống đỡ thì cháu đã toi mạng rồi.

Mục đồng không nói năng gì hết, cứ đứng yên mà nghe thôi. Người họ Nghê liền khen y vài câu:

- Cháu ném phi tiêu khá lắm, nhưng sức ném còn hơi yếu một chút. Nhưng điều này không thể trách cháu được sau này cháu lớn lên sức lực ở cổ tay tự nhiên mạnh hơn bây giờ liền.

Nói xong, y xách con cọp lớn lên. Chỉ thấy chổ hậu môn bị bắn trúng một mũi phi tiêu. Y lại nói tiếp:

- Mũi tiêu đủ sức mạnh, nên đã xuyên vào tận trong bụng nó, vì vậy con súc sinh này mới chết ngay.

Mục đồng đáp:

- Ngày mai cháu sẽ dụng tâm luyện lại.

Người nọ nghe gật đầu, liền lôi con hổ vào trong hậu đường. Bàng Cử thấy hai người giết một con cọp lớn một cách dễ dàng nhu vậy, trong lòng hãi sợ không yên. Thoạt tiên y tưởng những người này không phải là nông dân thường. Bây giờ y biết những người này có lẽ là giặc cướp giả dạng. Nếu họ mà ra tay đối phó mình thì mình địch sao lại họ.

Nhưng Triều Tôn không có ý nghĩ ấy, chàng cứ hết sức khen ngợi mục đồng anh dũng; rồi chàng còn chạy lại vuốt tay thằng nhỏ hỏi tên họ là chi nữa. Nhưng mục đồng không chịu cho chàng hay.

Ðêm hôm đó, Triều Tôn, Bàng Cử và Hầu Khang ba người cùng ngủ một giường. Vừa nằm xuống, Hầu Khang đã ngủ say liền. Triều Tôn nằm trằn trọc mãi không sao ngủ được. Một lát sau, chàng nghe thấy có tiếng người đọc sách, liền lắng tai nghe, mới hay mục đồng đang đọc sách bằng tiếng Quảng Ðông, chứ không phải là tiếng Trung Châu, chàng lại càng ngạc nhiên thêm. Chàng nghe mãi không hiểu thằng nhỏ ấy đọc sách gì, sau mãi mới nghe được một vài câu, mới hay mục đồng đọc viện binh trận, chiếu đấu gì ấy. Lòng hiếu kỳ thúc đẩy, chàng vội khoác áo ngoài vào, đi ra ngoài sảng, thấy trên bàn có thắp một ngọn nến thực lớn, mục đồng đang chăm chỉ đọc và người họ Ứng ngồi cạnh dạy baỏ, trông thấy Triều Tôn ra chỉ khẽ gật đầu chào một cái thôi. Triều Tôn tới cánh bàn, thấy trên mặt bàn còn có thêm mấy cuốn sách nữa, chàng liền cầm một cuốn lên xem, thấy ngoài bìa đề “Kỷ Hiệu Tân Thư”, mới hay cuốn sách ấy là cuống binh thư của Thích Kế Quang viết.

Triều Tôn liền lên tiếng hỏi họ Ứng ấy rằng:

- Xem cử chỉ và hành động tôi nhận thấy quý vị ắt không phải là người thường. Vậy không hiểu tại sao quý vị ẩn cư ở nơi đây? Chẳng hay tiểu sinh có thể cho tại hạ hay rõ nguyên nhân ấy không?

Người họ Ứng đáp:

- Chúng tôi chỉ là những nhân dân rất thường thôi. Chúng tôi quanh năm sanh sống bằng nghề cày cấy săn bắn, còn học sách tập viết là việc rất thường thôi, chứ còn gì khác lạ đâu mà công tử lại hổi như vậy? Chẳng lẽ chỉ có con cháu quan hay người giàu có mới được học hành hay sao?

Triều Tôn biết đối phương không chịu nói cho mình hay, có hỏi thêm cũng vô ích mà thôi, nên chàng cáo lỗi, rồi trở về phòng ngay.

Chàng đang mơ mơ màng màng thì bỗng thấy có người đẩy mình một cái, liền thức tỉnh ngồi dậy luôn. Chàng liền thấy Bàng Cử khẽ nói:

- Nơi đây là ổ giặc đấy, chúng ta mau chạy đi thôi.

Triều Tôn giật mình kinh hãi, khẽ hỏi lại:

- Sao Tổng tiêu đầu lại biết rõ như thế?

Bàng Cử liền lấy đá lửa ra đánh thắp cháy một bó đuốc nhỏ, rồi cầm tới cạnh một cái rương lớn, mở nắp rương ấy và nói:

- Công tử xem này.

Triều Tôn thấy trong rương chứa đầy vàng bạc châu báu, giật mình kinh hãi, đứng ngẫn người ra liền.

Bàng Cử đưa bó đuốc cho Triều Tôn cầm, để khuân cái rương ấy xuống, bên dưới lại còn một cái nữa, y định bẻ khoá để mở ra xem, Triều Tôn vội khuyên bảo:

- Ta không nên xem những gì bí ẩn của người khác như thế, nhở gây tai họa thì sao?

Bàng Cử đáp:

- Tôi nhận thấy bên trong có mùi khó ngửi xông ra.

Triều Tôn vội hỏi lại:

- Mùi gì thế?

- Mùi tanh hôi của máu.

Triều Tôn không nói gì nữa. Bàng Cử liền bẻ luôn cái khóa rồi lắng tai nghe, thấy bên ngoài không có tiếng gì cả, y liền khẽ mở nắp rương lên, và giơ bó đuốc lên soi. Không hiểu hai người trông thấy vật gì ở trong rương mà đầu ngẩn người ra liền.

Thì ra, trong rương có hai cái thủ cấp. Một cái đã bị chém lâu rồi, nên máu đã khô và thâm cả rồi, cái thứ hai thì mới chém không lâu. Họ tẩm vôi bột và thuốc để cho khỏi hư, nên râu và lông mày của hai cái thủ cấp ấy vẫn còn toàn vẹn cả. Bàng Cử là người lão luyện giang hồ đến thế mà cũng biến sắc mặt, chân tay run lẩy bẩy liền. Triều Tôn cũng kinh hãi đến đứng đờ người ra.

Bàng Cử khẻ đóng nắp rương lại và nói:

Chúng ta phải chạy cho thực mau mới được.

Nói xong, y liền gọi Hầu Khang dậy, rồi cả ba lần mò ra ngoài sảng, nhưng khi tới nơi cánh cửa, vừa rờ tới tảng đá lớn chặn cửa thì Bàng Cử kêu khổ thầm liền. Y dở hết sức bình sinh ra, không sao lay chuyển nổi tảng đá ấy.

Bỗng có ánh sáng đèn chiếu ra, ba người vội quay lại nhìn, mới hay người họ Chu đã cầm nến bước ra. Bàng Cử vội cầm lấy thanh đơn đao để phòng bị, nếu có sao thì đành thí mạng với đối phương ngay. Nhưng người nọ không thèm đếm xỉa tới y, chỉ hõi:

- Muốn đi phải không?

Nói xong, y liền đi tới cạnh cửa, khẽ đẫy tảng đá sang bên, rồi mở luôn cánh cửa lớn ra.

Không biết là hên hay sui, Bàng Cử với Triều Tôn cứ cúi đầu đi ra ngoài cửa, dắt ngựa tới, rồi lên ngựa phóng ngay về phía Ðông tức thì.

Ba người đi được mười mấy dặm trong lòng đang yên trí thì bỗng nghe thấy phía sau tiếng gió ngựa nhộn nhịp và có người kêu gọi:

- Này, đứng lại, đứng lại.

Ba người không dám ngừng lại cứ thúc ngựa phóng tiếp. Ðột nhiên có cái bóng đen thấp thoáng, một người lướt qua cạnh ba người và phóng lên phía trước, giơ tay ra một cái. Ngựa của Bàng Cử kinh hãi, hí lên một tiếng thực lớn rồi đứng chồm lên luôn.

Bàng Cử vội giơ đơn đao, nhắm đầu người ấy chém luôn một nhát. Người nọ giở thế võ tay không cướp khí giới ra đấu với tổng tiêu Ðầu họ Dương này liền. Nhưng chỉ đấu được vài hiệp, người đó đã tung mình nhảy lên giơ tả quyền ra đấm luôn vào Thái dương huyệt của Bàng Cử. Không chịu để cho đối phương đấm trúng, Bàng Cử múa đao lên nhằm cánh tay của người ấy chém luôn. Ngờ đâu thế công của người nọ lại là thế hư, tay đưa ra lưng chàng đã biến quyền thành chưởng, người chàng ta chưa rơi xuống mặt đất đã dùng chưởng móc luôn vào cổ tay của Bàng Cử mồm thì luôn quát lớn:

- Xuống ngựa.