Tiêu Sơn Tráng Sĩ

Khái Hưng


Hồi 1 - Người khách lạ

 

Tuy mới vào khoảng đầu giờ Dậu, nhưng về tiết mùa đông, trời đã nhá nhem tối. Các nhà, các hàng xén ở phố Từ Sơn đều đóng cửa. Chỉ trừ một hàng cơm là có ánh sáng. Và luôn luôn ở trong đưa ra tiếng cười nói ầm ỹ.

Một trang thiếu niên kỵ sĩ, từ phía Nam tới, kìm ghì cương ngựa trước cửa hàng. Chàng y phục nai nịt gọn gàng, đầu đội nón lông đen, chân đi hia chẽn, cỗ quấn một cái khăn lụa trắng thắt lỏng, mối bỏ rủ sau lưng. Con ngựa của chàng sắc nâu xẫm, và tuy nhỏ thon, nhưng có dáng mạnh mẽ và khỏe dai. Trời lạnh buốt căm căm mà mình nó ướt đẫm mồ hôi, xem đó đủ đoán biết chủ nó đi từ xa lại. Thế mà mũi nó hục hặc thở ra hai luồng hơi khói, bốn gió nó cuốc xuống đất như gõ nhịp, để tỏ ý muốn là còn thừa sức chạy một thôi dài nữa. Kỵ sĩ lấy tay vỗ khẽ vào cổ ngựa nói:

- Hãy thong thả, tuấn mã, đi đâu mà vội thế? Thầy trò ta nghỉ chân ăn lót dạ đã.

Chàng vừa toan xuống ngựa, thì mắt chàng ngẫu nhiên để tới một cái bảng gỗ vuông quét vôi trắng, trên viết những chữ nôm thật to, to đến nỗi trời đã gần tối hẳn mà chàng còn lỗ mỗ đọc được...

Nhưng giữa lúc đó, sau một tiếng hét của con ngựa thì tiếng ồn ào cười nói trong hàng cơm im bặt. Rồi cánh cửa hé mở, một người thò đầu ra hỏi:

- Ai?

Không trả lời, thanh nhiên võ sĩ nhanh nhẹn nhảy ngoắt xuống đất, kéo và vuốt áo cho hết nếp răn vì lúc ngồi trên yên, chàng đã giắt vạt cả vào trong chiếc giây lưng điều. Ðoạn, thong thả, dõng dạc, chàng bảo người vừa hỏi:

- Chú còn đợi đến bao giờ mới ra giắt ngựa của ta vào tàu?

Ý chừng cho là lời nói đó hỗn xược, người kia mở mạnh cánh cửa bước ra đường đứng phưỡn ngực chống tay vào sườn, gật gù hỏi lại:

- Anh có biết tôi là ai không mà dám nói xách mé như thế?

Người khách mới đến mỉm nụ cười khinh bỉ thản nhiên đáp:

- À, ra tôi lầm! Ý chừng chú không phải là chủ quán hay người nhà hàng cơm.

Rồi, sau khi đã buộc giây cương vào đầu một cái kèo ở mái hiên, chàng đi thẳng vào trong hàng, lớn tiếng gọi:

- Chủ quán!

Nghe tiếng chàng sang sảng, ngắm thân thể chàng cao lớn, mạnh mẽ, nhất lại nghe lách cách cái vỏ kiếm chàng đeo bên sườn đập vào ngưỡng cửa, người chủ hàng cơm hốt hoảng chạy ra khúm núm chào và lễ phép hỏi:

- Bẩm quan lớn truyền... ?

- Sắp rượu làm một con gà nhắm. Ðoạn ra giắt ngựa vào tầu cho nó ăn thóc.

- Dạ.

Bốn người ngồi quây quần đánh tam cúc ở một cái phản bên dương mắt ngạc nhiên, yên lặng nhìn. Người ở ngoài đường quay vào nói to bảo bọn họ, có lẽ cốt để võ sĩ vừa tới nghe rõ:

- Lệnh trên ban xuống cho anh em mình canh phòng ở đây, các chú phải cẩn mật, nếu vô ý để phạm nhân trốn thoát thì đầu anh em mình chẳng còn đâu!

Dứt lời, bác cai – vì bọn đó là một viên cai và bốn tên lính – trèo lên ngồi chểm chệ trên một cái phản cao kê liền bên.

Người trẻ tuổi mới đến tò mò đưa mắt quanh phòng rồi mỉm cười hỏi bọn lính:

- Này các chú, có xảy ra việc gì mà việc canh phòng cẩn mật thế?

Một người lính trỏ lên cái bảng cũng giống cái bảng treo ở ngoài cửa mà nói rằng:

- Ðọc đó sẽ hiểu.

Trong khi người khách lạ đứng lên cái ghế đẩu vuông để xem bảng, thì viên cai và mấy chú lính nháy nhau thì thầm:

- Khả nghi!

- Ðề phòng!

- Tôi hỏi tín bài hắn nhé?

- Hãy thong thả. Nhưng phải luôn luôn để ý đến hắn. Mà khí giới để đâu cả?

- Ðể cả dưới gầm phản.

- Ðeo dao ngay vào thắt lưng. Còn mã tấu, đoản kích thì của người nào, người ấy đặt ngay bên mìn để phòng biến. Mà se sẽ chứ chẳng hắn biết. Nghe chừng hắn ta cũng không phải tay vừa đâu.

Người trẻ tuổi vẫn đứng trên ghế lẩm nhẩm đọc:

“Quan trấn thủ trấn Kinh Bắc Nguyễn Mỗ có lời yết thị như sau này:

“Từ khi đức Thái tổ Võ Hoàng đế đánh đuổi quân Tôn Sĩ Nghị chạy như đàn chuột về Tàu, và trừ tiệt giặc giã quấy nhiễu trong nước, thì trăm họ đều được an cư lạc nghiệp. Nhưng gần đây một tên ngông cuồng dấy loạn để làm rối cuộc thái bình, nhân dân đầu ghét, đều oán coi như kẻ thù chung. Tên ấy là Nguyễn Ðoàn người hạt Từ Sơn. Than ôi! Lưới trời tránh sao cho thoát, nhờ oai hoàng đế, bản chức đã bắt sống được tên phản quốc và đã hành hình nó rồi. Song dư đảng bọn giặc còn luẩn quẩn vùng này, mà trong bọn có một tên rất nguy hiểm ấy là tên Phạm Thái tức Phạm Phụng con tên nghịch tặc Thạch Trung Hầu, quán thôn Yên thị, xã Yên Thượng, huyện Ðông Ngàn, phủ Từ Sơn.

“Phạm Thái vào trạc hai mươi tuổi, người vừa tầm, nhưng rất khỏe, rất giỏi võ. Dưới đây có phác bức hình, hoạ theo những lời trình bày của các thám tử...

“Ai bắt sống được Phạm Thái sẽ thưởng tiền một nghìn quan. Ai giếtchết hắn sẽ thưởng tiền năm trăm quan.

“Nhận được giấy yết thị nầy, các viên phân tri phải dán ở các ngã ba cùng cá tửu quán có đông người lai vãng. Lại cho lính ngày đêm canh phóng ở các nơi mà quân gian có thể tụ họp được.

“Niên hiệu Cảnh Thịnh, Năm thứ năm, tháng chạp, ngày mồng ba”.

Ở một góc bảng, có vẽ rất sơ sài diện mạo một người đàn ông và chua mấy hàng chữ sau này:

“Mặt trái soan, miệng rộng, mắt hơi xếch lông mi rậm, tai to, có một nốt ruồi ở sau tai bên phải”

Chàng trẻ tuổi bỗng nhiên cất tiếng cười vang. Bọn lính cơ ngạc nhiên nhìn nhau, rồi một người mạnh bạo hỏi:

- Cớ sao đọc tờ yết thị của quan trấn thủ, nhà ngươi lại dám chế nhạo?

Chàng kia quay lại đáp:

- Không, ta có chế nhạo ai đâu? Ta chỉ tức cười chết đi vì câu: “Có một nốt ruồi sau tai phải”. Thiết tưởng nếu tráng sĩ Phạm Thái là người rất khoẻ, rất giỏi võ như tờ yết thị đã nói, thì còn ai dám đến gần vạch tai hắn ra mà xem nốt ruồi? Thành thử câu chỉ thị đó thực là thừa.

Dứt lời, chàng lại cười, lấy làm thích chí lắm:

- Trời ơi? Sao không chua: Phạm Thái có cái mũi ở giữa mặt, có cái cằm ở dưới mũi, có phải dễ nhận hơn không?

Viên cai đứng dậy quát:

- Anh không được hỗn xược với quan trấn thủ!

Chàng trẻ tuổi vờ nhún nhường đấu dịu:

- Sao chú vội giận thế? Nào tôi có hỗn xược gì đâu! chẳng qua bàn một câu cho vui đấy thôi chứ.

Vừa nói chàng vừa bước xuống đất, rồi như quên hẳn câu chuyện vừa xảy ra, chàng gọi:

- Chủ quán!

- Dạ.

Một người to béo mặc áo cánh bông, đầu chít chéo vuông khăn nhuộm nâu, nặng nề đi lại gần, chắp tay chờ lệnh.

- Chủ mi đâu?

- Bẩm quan lớn! Chủ con đương làm nhắm hầu quan lớn.

- Sao rượu ta gọi từ nãy vẫn chưa đem ra?

- Bẩm, con, tưởng còn chờ nhắm.

- Cứ đem rượu ra trước đã.

- Bẩm có hâm nóng không?

- Không cần. Mau lên!

- Dạ! Nhưng ngài sơi rượu gì?

- Rượu Cúc! Mau!

- Dạ!

Tức thì tên hầu rượu vào buồng lấy ra đặt lên bàn một cái nậm và một cái chén vại mà hỏi:

- Bẩm công tử ngổi giường hay ngồi bàn?

- Ngồi bàn được rồi. Mà sao đèn lù mù thế nầy. Chặp ba sợi bấc vào, rồi đi lấy thêm dầu rót cho đầy bát.

- Dạ.

Chàng trẻ tuổi uống luôn ba chén rượu đầy, chép miệng liếm môi chau mày nói lớn:

- Hừ! Rượu thằng cha pha nước lã nhiều quá, uống chẳng mùi mằn gì!.. Quán!

- Dạ.

Tên hầu sợ hãi bước tới, vì hắn đã nghe rõ lời chê bai của ông khách. Nhưng ông khách ôn tồn hỏi:

- Có mực không?

Tên kia vui mừng đáp:

- Bẩm công tử, có mực Bắc Hải ngon lắm.

- Vậy đi sắp cho ta cái hỏa lò than hồng với lại đem lên đây mươi con mực.

Một lát sau, mùi mực nướng thơm phức bay khắp gian phòng. Và ông khách đã dùng đến nậm rượu thứ ba.

Viên cai bắm bọn lính ra hiệu thì thầm:

- Thằng nầy tôi xem chừng có lẽ là Phạm Thái. Mặt trái soan thì đích rồi. Lông mày tuy không rậm nhưng không thưa. Còn miệng hắn như thế cũng có thể cho là rộng được.

- Vâng, có lẽ đích rồi.

- Giá bây giờ ai lén đến sau lưng lật trái tai hắn ta lên xem có nốt ruồi không, thì mới biết chắc chắn được.

Mọi người im lặng nhìn nhau, có ý lo sợ. Viên cai ngẫm nghĩ rồi lại nói:

- Các chú ạ, ta nói phải dùng mưu... Thế này này: Bây giờ ta nói phỉnh cho nó uống thật nhiều rượu. Khi nào nó say mềm, ta chỉ việc trói gô lại là xong.

- Nhỡ nó không phải Phạm Thái.

- Thì thả nói ra.

- Vậy được rồi.

Người trẻ tuổi thấy bọn kia ở ngoài đi vào, nét mặt ai nấy có vẽ bí mật, thì vui cười hỏi:

- Các chú đi tìm Phạm Thái về đấy à?

Viên cai cơ đáp:

- Phạm Thái hắn ẩn núp ở nơi rừng rú, chứ dám bén mảng về đây.

- Phải, hắn ta dại gì mà về đây để người ta bắt.

Nói dứt câu, chàng thích chí cười khanh khách. Rồi chàng nâng chén rượu nốc một hơi cạn. Viên cai tấm tắc khen:

- Giỏi thực! Tửu lượng công tử ít người sánh kịp. Thưa công tử, công tử uống nổi mấy nậm?

- Cái đó tùy! Rượu ngon thì mười nậm cũng là ít. Chứ rượu thằng cha này nhạt thếch uống chán phè. Nhưng kìa, sao các chú không uống rượu với tôi?

Nghe người ta gọi mãi mình bằng chú, viên cai căm tức muốn sinh sự ngay, nhưng lại nghĩ đến mưu sâu đã sắp thành, nên cố nén lòng nhẫn nại và phỉnh thêm một câu:

- Vâng, rượu này chỉ bọn anh em chúng tôi uống, chứ công tử thì phải sơi những thứ rượu hoàng cúc, thanh mai, hay ngũ da bì chính hiệu kia.

Chàng tuổi trẻ cười:

- Nhưng thôi, các chú ạ, người quân tử không nên nghĩ đến cái ăn, cái uống tha thiết quá. Tối nay ta có thứ rượu cúc khổ này của anh quán khổ thì ta hãy tạm thích nó vậy.

- Dạ, ngài nói phải lắm.

- Vậy bây giờ tôi mừng các chú mỗi người một chén để các chú tỉnh ngủ mà canh phòng nhé?

- Dạ, đa tạ công tử.

Chàng tuổi trẻ liền đập mạnh cái nậm thiếc xuống bàn gọi:

- Bớ quán!

- Dạ.

- Lấy thật nhiều rượu ra đây để ta thết lính nhà vua.

- Dạ.

Tức thì chủ quán mang ra đặt lên bàn năm cái chén lớn và một cái bình thiếc to gần bằng cái hũ... Chàng trẻ tuổi quay về phía bọn lính:

- Các chú lại cả đây cùng uống cho vui.

- Dạ, chúng tôi không dám.

- Thì cứ dám đi mà!

Vừa nói, chàng vừa rót sáu chén rượu đầy. Lúc bấy giờ có lẽ đã cuối giờ Tuất. Phố phủ im vắng. Chỉ thỉnh thoảng có tiếng trống trong phủ và tiếng mõ ở các điếm cầm canh mà thôi. Bọn lính thì thầm bảo nhau:

- Ta cứ lại xem sao.

- Nhớ mời nó uống thật say nhé?

- Mà đừng quên dao đấy.

Chàng trẻ tuổi cười, nói:

- Có thế mà cứ bàn tính mãi.

- Dạ, chúng tôi xin lại đây.

Sáu người vừa uống cạn chén thì phía ngoài có tiếng gọi. Chủ quán ra mở cửa. Một nhà sư khoác tấm mền ướt màu nâu cúi đầu chào:

- A-di đà phật!

- A-di đà phật!

Nhà sư đi thẳng vào một góc phòng ngồi xếp bằng trê phản, miệng lâm râm như đọc kinh. Viên cai hỏi chàng tuổi trẻ:

- Chẳng hay nhà sư có biết uống rượu không nhỉ?

- Sao lại không?

- Nhưng chúng tôi chưa chúc mừng công tử chén nào.

Vừa nói vừa rót đầy chén rượu năng lên mời:

- Xin chúc công tử vạn sự như ý.

Lần lượt năm người mời chàng tuổi trẻ luôn năm chén. Thấy chàng uống rượu như uống nước lã, bọn lính đưa mắt nhìn nhau. Rồi một người nói:

- Bây giờ ta chúc thọ thiên tử một chén.

Chàng tuổi trẻ đáp:

- Ừ, thì chúc thọ thiên tử. Nhưng con gà của ta nó đã mang lên kia.

Uống cạn chén rượu chúc thọ thiên tử, chàng tuổi trẻ lại bàn uống một chén đẻ mừng cho linh hồn con gà thiến đã được siêu tục qui tiên. Rồi lần lần họ chúc thọ quan Thái sư Bùi đắc Tuyên, quan Thái uý Phan Côn Hưng, quan Ðại tư khấu Trần Quang Riệu, quan Ðại tư mã Ngô Văn Sở, quan trấn thủ, quan phân tri. Khi chúc thọ đén chủ quán thì chàng tuổi trẻ đã say mèm, mặt đỏ gay, đầu lảo đảo lưỡi cứng đờ, nói díu lại không ra câu nữa.

- Này các... chú... nhắm đi chứ... rồi ta còn chúc thọ... nhiều... Ừ! Sao các chú không... chúc thọ tôi...

- Dạ, vậy xin công tử cho biết quý tính phương danh.

- Quý... tính phương danh à? Tên ta... à...! Ta là Ngang... tàng công tử... Lê Báo... người trấn Sơn Nam.

Bọn lính đưa mắt phân trần thầm với nhau rằng đó là một câu nói dối. Nhưng viên cai cũng vờ nâng chén rượu chúc tụng:

- Ngang tàng công tử Lê Báo thiên tuế!

Cả sáu người giốc cạn chén rồi cùng cất tiếng cười vang. Ngó thấy nhà sư vẫn ngồi ở cái phản đầu bên kia, co ro, ủ rủ trong chiếc mền nâu, có vẻ rét mướt ốm yếu lắm, một chú lính đã hơi chuếnh choáng mời đùa:

- Sư cụ sơi rượu.

Nhà sư có dáng sợ hãi, chắp tay se sẽ đáp:

- Xin mời các thầy, bần tăng không dám.

Nhưng lúc bấy giờ, chàng tuổi trẻ càng say lắm, không nghĩ đến giữ gìn nữa, bạ câu gì nói câu ấy. Nhân bàn chuyện đến quan trấn thủ và quan phân tri, chàng vừa cười vừa mắng:

- Dốt! dốt tệ!

Chừng đã muốn dở mặt, người cai sừng sộ hỏi lại:

- Công tử bảo ai dốt?

- Dốt! Dốt... cả... lủ.

- Nhưng ai dốt mới được chứ?

 Như không nghe rõ câu hỏi, chàng kia nói luôn:

- Hừ! Không dốt... mà lại phải dùng.. chữ nôm. Ðời thuở nhà ai... lại yết... thị... bằng chữ nôm... bao giờ không... Cha mách qué... Ðồ mách qué?

Người cai sấn đến tận mặt:

- Anh này bảo ai là đồ máchy qué? Anh phải biết tiên đế đã xuống chỉ cấm tiệt chữ Ngô... Thi cữ, tờ bối dùng toàn tiếng, toàn chữ nước nhà... Tiên đế làm thế là để gây lấy một thứ chữ riêng cho người mình, sao lại dám ngạo mạn, khi quân...

Chàng trẻ tuổi cười phì cả rượu ra:

- Tiên đế... các... chú à?

- Của cả nước Nam, chứ của riêng gì ai!

Chàng kia lại cười:

- Không... phải... của... ta... Ta chỉ biết... có nhà Lê.

Tức thì viên cai hô lớn một tiếng, bốn tên lính rút cả dao ra chĩa vào mặt chàng tuổi trẻ.

Chàng chợt hiểu, đứng dậy lùi lại mấy bước, rút gươm ra đối địch. Nhưng vì chàng say quá, chân tay run lẩy bẩy, vừa bị viên cai đẩy mạnh cái bàn vào người đã ngã quay ra. Bọn lính cười ầm lên xúm lại toan trói, thì một tiếng hét sau lưng khiến mọi người kinh hoảng:

- Bay! Không được vô lễ với công tử.

Nhà sư lù rù ban nãy tung cái mền nâu xuống phản đã vụt trở nên võ sĩ lẫm liệt oai phong, tay cầm kiếm xông vào. Bọn lính liền bỏ chàng say rượu quay lại chống cự với nhà sư. Nhưng chống cự sao nổi? Lưỡi kiếm đi đến đâu, máu chảy đến đấy, chỉ trong khoảnh khắc, năm cái thây đã nằm ngổn ngang dưới đất.

Nhà sư liền giơ kiếm vụt mạnh một cái vào cây đèn dầu lạc cho tắt, rồi xốc chàng trẻ tuổi sau rượu cắp nách ra sân sau vào tàu giắt ngựa, nhảy vót lên yên trông thẳng phía tây bắc, phi nước đại.

 

Hồi 2 - Bến lo

 

Trên con đường từ thành Kinh Bắc đến huyện Ða Phúc, buổi sáng hôm ấy. Những người lái buôn nói với nhau câu chuyện sởn gáy, rùng mình.

Trong bọn có bác gánh một gánh nồi đồng nặng là nhát gan hơn cả. Mới tới cầu Dọi, bác đã hoãng hốt hết vía vì một câu chuyện vừa được nghe và nhất định đòi trở lại trấn lỵ, không đi nữa. Một cô hàng nồi đất, người bé nhỏ xinh xắn đưa con mắt sắc sảo liếc chàng và mỉm cười nói:

- Ví bằng bác chẳng chịu hộ vệ chúng em qua khỏi bến đò Lo thì cũng xin bác đưa chúng em đến chợ Chờ để chúng em bán mấy gánh nồi đất này chứ.

Một cô khác cũng chêm một câu:

- Ðàn ông các ông mà sợ hãi thế, thì bọn đàn bà con gái chúng em còn đi buôn bán làm sao?

Một anh chàng trẻ tuổi làm nghề hoạn lợn, tay vác cái cần dài đầu có thòng lọng, nghe chừng cảm động và mạnh bạo vì những đôi mắt đưa tình, những cặp môi tươi thắm. Chàng bàn:

- Thì ta hãy vào trong cầu ngồi nghỉ mệt đã nào.

- Phải đấy, trời mưa bay cũng có vẻ đẹp, nhưng chúng ta chẳng khỏi rét buốt đến xương. Vậy còn gì hơn là vào ẩn dưới mái cầu, trú mưa một lát.

Giọng bình tĩnh của cô hàng nồi đất trẻ tuổi khiến mọi người phải kính phục và lấy làm thẹn cho cái tính nhút nhát của mình. Vì thế, ai nấy vui vẻ cười nói đi vào trong cầu, đặt gánh hai bên lan can, kẻ ngồi người đứng, góp câu chuyện gẫu. Anh chàng hoạn lợn đứng phải chỗ mái cầu giột liền nói đùa:

- Rõ may! Ðương khát lại với được chỗ có nước.

Rồi anh ta thọc tay vào gánh hàng của cô xinh xắn kia lấy ra một cái niêu nhỏ hứng nước mưa. Cô hàng cũng chẳng phải tay vừa:

- Se sẽ chứ không vỡ cả của em đấy.

Mọi người cất tiếng cười vang. Cô hàng lại tiếp luôn:

- Cười vừa chứ, chẳng lỡ sụt mái cầu thì chết cả lũ bây giờ.

Lúc bấy giờ nàng mới kịp lưu ý đến một người đàn ông vào trạc ba mươi ngồi bên hai cái tay nải nây to kếch, vẻ mặt lo lắng, sợ hãi. Nàng liền quay lại hỏi:

- Bác gánh vải sợi đi đâu đấy?

Người kia se sẽ đáp:

- Không, cô ạ, tôi gánh tơ sang bán bên chợ Phù Lỗ.

- Ồ thế thì hay quá nhỉ, em củng đi chợ Phù Lỗ. Vậy ta phải lên đường thôi, chẳng trễ quá thì bán cho ai.

- Tôi đợi trời sáng hẳn mới dám đi. Nghe nói vùng này loạn lạc ghê gớm lắm.

Cô kia cười:

- Bác cả lo quá, từ khi nhà Nguyễn ta nối nghiệp nhà Lê thì giặc giã còn đâu cơ chứ.

Anh hoạn lợn gia sản mang theo có mỗi một cái thòng lọng. Vì thế, anh ta chẳng lo ngại gì cho tính mệnh anh ta, dù có giữa đường gặp cướp đi nữa. Nhưng anh ta càng bình tĩnh bao nhiêu, anh ta lại muốn mọi người lo sợ bấy nhiêu, nên gặp bác hàng tơ và vài người hàng vải, hàng xén đứng trong cầu, anh ta rắp kể cho nghe câu chuyện mà anh ta đã thuật với mọi người trên quãng đường từ trấn lỵ tới đó. Anh ta liền vờ lên giọng đạo dức bảo cô hàng nồi đất:

- Cô ác lắm. Nói thế nhỡ bác ta tưởng thực thì sao? Không đâu, bác ạ, vùng ta nhộn lắm kia đấy.

Bác hàng tơ run lập cập:

- Vâng, tôi cũng gnhe thấy người ta đồn thế. Hình như tối hôm qua, quân của Nguyễn Ðoàn hạ... mất Phủ Từ Sơn rồi thì phải.

Cô hàng nồi đất cười ròn:

- Nguyễn Ðoàn bị xử tử rồi còn đâu.

Anh hoạn lợn bĩu môi:

- Xử tử hắn, nhưng dư đảng của hắn liệu có xử tử hết được không? Phạm Thái còn đáng ghê sợ gấp mấy Nguyễn Ðoàn.

Cô hàng, giọng khinh bỉ:

- Nhưng đảng họ chống cự với vua Tây Sơn, chứ có phải bọn giặc cướp tầm thường đâu mà đi bóc lột bọn con buôn như chúng mình.

- Không! Cứ một việc xảy ra ở một tửu quán phố Từ Sơn tồi hôm qua cũng đủ hiểu bọn họ chỉ là một bọn giết người lấy của.

Người hàng tơ nhớn nhác hỏi:

- Vậy à? Câu chuyện thế nào, bác cho chúng tôi nghe với.

Anh hoạn lợn ra bộ ta đây thành thạo việc đời, hắn giặng hai, ba tiếng lấy giọng rồi kể:

- Nguyên tôi có người anh con nhà bác đóng đội cơ tại dinh quan Hiệp trấn Kinh Bắc. Tối hôm qua, tôi ở chơi đằng nhà bác đội. Cơm nước xong đi ngủ như thường...

Cô hàng nồi đất cười và ngắt lời:

- Bác nên kể tóm tắt thì hơn. Chúng ta còn phải lên đường chớ. Kìa bác coi, đã sáng rõ rồi, phương đông đã đỏ ửng ánh sáng mặt trời. Mưa thì cũng đã tạnh.

Anh chàng kể chuyện liếc cô một cái rất tình:

- Sao mà cô táo cấp thế? Vâng thì kể tóm tắt. Chúng tôi đi ngủ... Vào khoảng cuối giờ Sửu sang đầu giờ Dần, có tin cầp báo ở Từ Sơn đưa lên. Một người lính cưỡi ngựa truy phong phi thẳng vào dinh quan Hiệp trấn báo có giặc ở Từ Sơn.

Tên giặc ấy chẳng phải ai xa lạ, chính là Phạm Thái tức Phạm Phụng mà quan quân vẫn tróc nã bấy lâu nay. Ðầu đuôi việc ấy như thế này: Chập tối, một nhà sư vào một hàng cơm ở phố Từ Sơn ngủ trọ để sáng hôm sau lên chùa Phật tích sớm. Nhà sư đem theo nhiều đồ thờ quý giá lắm, ấy là không kể tiền bạc gói chặt trong một chiếc mền nâu. Tức thì Phạm Thái đã nấp sẵn đâu đó tiến theo vào liền sau. Hắn ăn vận chững chạc, nai nịt gọn gàng; khi lính canh trong tửu quán hỏi tín bài thì hắn giơ ra một cái tín bài giả cũng có khắc bốn chữ “thiên hạ đại tín” y như trong những tín bài của triều đình. Nhưng tên tuổi quê quán thì hắn chu man là Lê Báo, người trấn Sơn Nam. Tuy thế lính vẫn chú ý đề phòng vì thấy hắn ta có dáng khả nghi lắm. Quả không sai. Vào khoảng gần nửa đêm, tên Lê Báo giả tứ Phạm Thái, chém giết hết bọn lính đông đến ngót ba chục, rồi cướp nhà sư với các bảo vật kim ngân nhảy phắt lên ngựa trốn mất. Bây giờ nghe đâu hắn ta vẫn còn lẩn quất ở vùng ta thì phải.

Bác bán tơ run như cầy sấy, hỏi lại:

- Hắn ta còn lẩn quất ở vùng nầy?

Cô hàng nồi đất cất tiếng cười khanh khách nói bông:

- Bác hoạn lợn kể chuyện hay nhỉ, nghe như truyện Tam Quốc vậy. Nhưng anh em chị em đừng tin bác ta, cứ mạnh bạo lên đường là hơn hết.

Dứt lời, nàng nhanh nhẹn quẩy gánh và giục mọi người ra đi. Muốn ai nấy quên câu truyện ghê gớm nàng cất tiếng hát một bài quan họ có ý tứ bỡn cợt, trêu ghẹo, lẳng lơ:

“Ðêm qua em mơ gặp chàng,

Ðôi ta tạc nghĩa đá vàng cùng nhau.

Ước gì anh trước em sau,

Ði chợ Phú Lỗ trao cầu kết duyên”.

Hát xong, nàng lại cười ròn như nắc nẻ, anh hoạn lợn nghe nàng nói đùa bác bán tơ thì tỏ ra vẻ tức tối, hậm hực. Ý chừng nàng cũng biết vậy, nên lại hát luôn câu nữa để lấy lòng anh ta.

“Anh thợ hoạn ơi,

Anh về gánh đất nặn nồi,

Ðể em đem bón cho người nấi cơm”.

Những người đàn ông ôm bụng cười ngất. Mấy cô bán hàng nồi đất xấu hổ đỏ mặt. Nhưng ai nấy hầu như đã quên bẵng câu chuyện cướp bóc và đề cất gánh lững thững đi theo cô hàng láu lỉnh.

Lúc bấy giờ, mưa bay đã tạnh hẳn và mặt trời đã ló trên phía thành quách, chiếu xuống một làn ánh sáng dịu dàng.

Bọn lái buôn vừa trai vừa gái, vừa nhà quê vừa thành thị độ hơn mười người, gồng nánh, đội vác đi trên bờ đê nhỏ hẹp, bên con sông Dọi, nước về mùa đông, hầu cạn hẳn. Họ xúm xít đi sát vào nhau, hình như để đỡ lo sợ. Lòng lo sợ gầy nên quang cảnh quanh vùng, tiêu điều, xơ xác, với những cây trơ trụi, khẳng khiu, trên những mồ đất rải rác trong một cánh đồng rộng đầu nước, bát ngát, mênh mông trắng xóa tới tận rặng tre xanh xa tắp.

Ði nửa giờ tới huyện lỵ Ðông Ngàn. Viên phân tri đã nhận được giấy sức tróc nã phạm nhân ngay từ buổi sớm tinh sương, nên sự canh phòng ở đây rất cẩn mật. Viên phân xuất thân ra cổng huyện xem xét dỹ lưỡng tín bài. Song chỉ một mình anh hoạn lợn là phải giữ lại, vì tín bài của anh thiếu điểm chỉ.

Trước khi đến chợ Chờ, ai nấy còn phải dùng bước ở một cái quán con lợp cói, mà người ta gọi là cầu Chờ, để làm việc thiện: Nghĩa là lần lượt mỗi người kính cẩn đến trước cái nong, để trên mặt đất, trong có cắm mấy nén hương, và bỏ vào đó từ mười tới ba mươi đồng tiền trinh, tuỳ theo tài sản từng người mang theo. Ai dáng cúng hai mươi đồng mà chỉ cúng mười đồng thì sẽ gặp sự nguy biến ngay.

Vì đâu có sự cúng tiền như thế?

Nguyên ở vùng ấy, trong vòng ba, bốn năm, một bọn cướp nhũng hiếp tróc nhân dân hai bên ven sông Cà Lồ, nhất là ở gần bến đò Kim Lũ, Quan hiệp trấn đã cho quân lính về tuần phòng nhưng vẫn vô công hiệu. Ðến nỗi bến đò Kim Lũ khách vãng lai đã đặt cho cái tên “bến Lo”. Mà cũng vì thế mới tên “cầu Chờ”: Ai ai đi đến đấy đều phải nghỉ lại để chờ cho thực đông người mới dám cùng nhau sang sông.

Một đêm, một nhà sư qua đò. Bọn cướp đến vây bắt, bị nhà sư đánh một trận chạy tán loạn. Rồi luôn mấy đêm liền, nhà sư vô danh kia đem đồ đảng đến Kim Lũ trừ tiệt bọn cướp. Từ đó, nhân dân đi lại được như thường và sự thương mại đã kém sút lại trở nên phồn thịnh như xưa.

Nhưng đảng cướp vừa trừ xong thì một tục lệ bỗng thành lập, không rõ do một tay kỳ dị nào. Người ta chỉ biết rằng ai đi đến cầu Chờ mà không lễ phép bỏ vào cái nong một số tiền để cúng nhà chùa thì sẽ bị bóc lột một cách chắc chắn khi qua bến đò. Cúng vào chùa nào, và bị ai bóc lột? Còn ai biết. Hình như có một dảng bí mật nã tiền để làm việc gì to tát... Vả thấy được yên ổn làm ăn buôn bán, ai ai cũng vui lòng nộp số tiền phải nộp, không hề ta oán, kêu ca hay thóc mắch báo quan, hay tò mò tìm biết tung tích người đứng thu thuế một cách trái phép như thế.

Người ta đồn rằng – nhưng đó chỉ là một lời đồn phỏng – quan trấn thủ, quan hiệp trấn và viên phân tri Ðông Ngàn đã rõ có sự nã tiền ấy, song vì không ai tố cáo, nên cũng làm ngơ để khỏi lôi thôi đến mình: Các quan cũng thừa biết trong hạt có một đảng bí mật rất đáng sợ, kiêng nể, nên các quan định sẽ dùng mưu kế, chứ không thể dùng sức mạnh mà trị được.

Bọn lái buôn trên kia khi đến cầu Chờ đã biết sự lệ. Ai nấy đặt gánh cởi hầu bao, khi thấy cô hàng nồi đất vui vẻ bỏ vào nong năm mươi đồng tiền trinh mà nói rằng:

- Anh em ạ, việc nghĩa ta nên rộng rãi một chút.

Cố nhiên nhiều người lấy làm khó chịu về cử chỉ của nàng, nhưng không ai dám cúng ít, vì phần sợ xấu hổ với cô hàng nồi đẹp đẽ, phần lo đảng bí mật trị tội. Ở khắp vùng, họ đồn đại rằng tuy chung quanh nong tiền không có người trông coi, nhưng chẳng một cử chỉ, chẳng một lời nói của khách qua đường là không bị một người nấp đó ghi chép.

Làm xong việc thiện - việc thiện miễn cưỡng - bọn lái buôn vội vã gánh gồng hoặc đến chợ Phú Mẫn bán hàng, hoặc đến Kim Lũ để qua đò sang sông. Một mình cô hàng nồi đất còn ngồi lại nghỉ mệt một lát.

Bỗng nhớn nhác trông trước trông sau không thấy ai, nàng hắng dặng một tiếng. Tức thì ở cửa buồng nhỏ bên cạnh, tường vách xiêu đổ như một nơi bỏ hoang, một chú tiểu thò đầu ra giơ một ngón tay trỏ lên trời rồi lại biến mất.

Cô hàng liền rẽ bờ ruộng vào làng Ngô Xá, vừa đi vừa rao: “Có ai mua nồi đất ra mua?”

Hình như nàng cũng không thiết gì bán, và chỉ rao lấy lệ mà thôi, vì nàng đi rất mau. Tới chùa Tiểu Linh Quang, nơi tu hành của các ni cô, nàng đã ngần ngừ toan vào, nhưng lại đi thẳng, coi bộ như có việc gì cần kíp lắm.

Một lát sau, nàng dừng bước ở cổng chùa Liên Ðài làng Nghiêm Xá, một ngôi chùa nhỏ không có chi khiến ai lưu ý tới. Cỗng chùa đóng, nàng ghé mồm vào bên giậu rau lớn:

- “Ai nồi đất ra mua? Trong chùa có mua nồi đất không?”

Ðáp lại lời rao hàng, một đàn chó vừa sủa vừa chạy ùa ra. Ði liền theo sau, một chú tiểu y phục tuy màu nâu sồng, nhưng hẹp chẽn gọn gàng. Vuông khăn nâu chú chít chéo trên đầu tựa cái đầu mâu của chiến tướng đời cổ khi ra trận càng làm tăng vẻ mảnh liệt của chú lên lắm. Chú cầm cái roi tre đuổi đàn chó to lớn, dữ tợn, rồi ra mở cổng mà hỏi rằng:

- Cái gì thế?

- A di đà Phật. Nà chùa có mua nồi không?

Chú tiểu nhìn co hàng nồi, nói khẽ:

- Có, vào nhà oản ngồi chờ một lát.

Cô hàng có dáng lo lắng:

- Không thể ngồi chờ được, việc cần kíp lắm.

- Nhưng ông sư đã truyền không ai được lên chùa trên trong khi sư ông làm việc...

Cô hàng giọng quả quyết nhắc lại:

- Không thể chờ được.

- Vậy để tôi lên chùa xem.

 

Hồi 3 – Sư Ông

 

Ðã luôn ba hôm nay, sư ông đóng cửa chùa trên, cả ngay cặm cụi làm việc.

Làm việc gì? Trong chùa không một ai hay. Chỉ biết rằng đã sáu bữa nhà sư bỏ cơm, và mỗi lần có ai vào khiến đàn chó sủa ầm ĩ, thì trên chùa lại nghe có tiếng mõ đều đều và tiếng tụng kinh sang sảng. Mãi cho đến lúc một chú tiểu thân cận đến gõ cửa và báo cho nhà sư biết người mới đến là ai.

Lần này cũng vậy, đàn chó vừa im sủa thì người ta nghe thấy tiếng tụng kinh du dương huyền bí ở trong chùa đưa ra, lẫn trong mùi trầm, mùi hương phảng phất. Nhưng chú tiễu vừa bạch có cô hàng nồi đất ở Kinh Bắc đến, thì nhà sư vội vã mở cửa bảo đưa cô ta lên ngay.

Công việc của cô hàng chỉ có giao tận tay cho sư ông một bức mật thư. Ðoạn, nàng hầp tấp xin đi ngay. Muốn tránh sự ngờ vực, nhà sự lớn tiếng bảo chú tiểu mua hai cái niêu thổi cơm.

Ðóng cửa cải then xong, nhà sư đến chỗ bệ gạch bày tượng. Tức thì hở ra một khe. Khi ấy lại mảnh tường để lấp cái khe đi, không ai có thể nhận thấy dấu vết được, nhất là chỗ đó lúc nào cũng tối như ban đêm.

Cố nhiên cái bệ ấy rỗng, và tuy ở trong có thắp đèn, thở cũng vẫn dễ, vì có nhiều lỗ thông hơi đục qua thân bụt gỗ khỗng lồ.

Ở một góc buồng nhỏ hẹp ấy có một bản gỗ trên khắc chữ nôm. Bên cạnh, một tập giấy vừa in xong. Thì ra luôn ba hôm nay, sư ông bận khắc bản gỗ ấy. Chẳng nói thì độc giã cũng thừa biết công việc bí hiểm của nhà sư quan trọng là chừng nào.

Nhưng có lẽ nhà sư cho bức thư kia còn quan trọng hơn nhiều, nên mới bỏ dở việc in giấy mà vội vàng xé phong bì ra xem.

Bức thư vắn tắt như sau này:

Phạm quý hữu nhã giám.

Bọn đồng chí chúng ta mới thêm được một người văn võ kiêm toàn. Người ấy là Lê Báo công tử con cả quan Thiên thư khu mật viện sự Lê Ban. Lê Báo hiện ẩn núp ở bản am, khao khát được gặp mặt quý hữu lắm. Vậy quý hữu nên sang ngay Tiêu Sơn hội viện để bàn một điều rất là cẩn trọng, cần kíp.

Phổ Tĩnh tiền sư kính thư.

Niên hiệu Chiêu thống (Ðảng tiêu Sơn vẫn giữ niên hiệu cũ của nhà Lê không chịu dùng niên hiệu Cảnh Thịnh nhà Nguyễn Tây Sơn) thứ mười một năm Bính Thìn tháng chạp ngày mồng bốn.

Xêm xong thư, Phạm Thái – vì sư ông chính là Phạm Thái tức Phạm Phụng - vội vàng thu xếp bản in giấy má gọn gàng, rồi ra ngoài đóng cửa phòng bí mật lại. Sau khi đã cặn kẽ dặn các tiểu trông nam chùa, chàng buộc hành lý vào trong một cái tay nải nâu, vắt lên vai ra đi.

Vì cớ gì Phạm Thái vội vàng thế?

Có lẽ cũng vì một phần việc đảng bộ, nhưng nhất vì tính tò mò muốn biết Lê Báo là ai, là người thế nào mà võ nghệ cao siêu lạ thường như thế?

Nguyên sáng sớm hôm nay, thám tử của chàng về báo cho biết tối hôm trước có một người trẻ tự xưng là Lê Báo vào uống rượu ở một tửu quán phố Từ Sơn rồi trong khi bất ngờ giết bọn lính canh trong quán và cướp một nhà sư trốn biệt.

Phạm Thái lấy làm kinh ngạc. Trong thư Phổ Tĩnh nói sang hội diện cùng Lê Báo. Vậy Lê Báo ấy chẳng hay có phải Lê Báo trong tửu quán không. Nếu phải thì nhà sư bị cướp đi chẳng là Phổ tĩnh còn là ai?

Phạm Thái vừa rảo bước trên con đường Từ Sơn vừa lẩm bẩm: “Khó hiểu? Chẳng nhẽ nhà sư ấy lại là Phổ Tĩnh? Vô lý! Trí dũng như anh Trần Quang Ngọc, còn ai bắt cóc nổi. Mà dù bắt cóc, dù cướp đi nữa, sao lại đến Tiêu Sơn?

Câu truyện xẩy ra năm trước, chàng còn nhớ rành mạch, và khiến chàng không thể nào tin được rần sự bắt cóc kia là có thực.

Hồi ấy Nguyễn Ðoàn vừa bị giết, đồ đảng vỡ lở tán loạn, sào huyện bị phá tan hoang. Phạm Thái phải lang thang, lẩn lút quanh vùng, luôn luôn bị quân lính của quan hiệp trấn Kinh Bắc và viên phân phủ Từ Sơn tróc nã.

Một đêm chàng đến chùa Tiêu sơn ngủ trọ. Thấy cảnh chùa hùng vĩ độc chiếm một trái đồi, chàng mừng thầm rằng chốn ấy có thể nương thân được để chờ vận mà đi tìm kiếm, tụ hội các nhân tài trong nước. Lòng sốt sắng báo thù cho cha và cho chủ đảng bị hại bởi tay Tây Sơn làm cho chàng trở nên tàn ác. Ðối với chàng, chỉ một mục đích chàng đương theo đuổi là đáng kể. Chàng không kiêng nể một sự gì để đi tới mục đích ấy, dù phải quả quyết hung bạo cũng đành.

Bởi vậy chàng có manh tâm muốn giết nhà sư Tiêu Sơn để chiếm giữ ngôi chùa làm một nơi sào huyệt. Chàng cho đó là một việc rất dễ dàng và giản dị. Sau khi chàng cạo trọc đầu và thắng bộ quần áo nâu vào thì còn ai nhận được chàng là Phạm Thái nữa; người ta sẽ gọi chàng là sư Tiêu Sơn và không bao giờ dám ngờ rần chàng đã kế nghiệp nhà sư chân tu kia một cách võ đoán.

Nhưng Phổ Tĩnh thiền sư trụ trì ở chùa Tiêu Sơn há phải là một thầy tu tầm thường mà chàng có thể giết như giết co gà mái non! vì thế vào khoảng giờ Tý, Phạm Thái vừa lẻn vào nhà trai, nơi túc phòng của Phổ Tĩnh, định giở tay, thì dưới ánh lù mù một ngọn đèn dầu, hai người liền đánh nhau một trận kịch liệt.

Ý chừng đều biết sức nhau, nên sau khi đã giở mấy miếng võ ra, đôi bên cùng lùi lại và cất tiếng cả cười. Nhà sư khinh bỉ hỏi Phạm Thái:

- Cớ sao ta đã cho nhà ngươi ngủ trọ, nhà ngươi lại trả ơn ta một cách xứng đáng thế?

Phạm Thái đáp vắn tắt:

- Không lôi thôi! Trong hai ta chỉ một người được sống.

Rồi chàng lại sấn tới giơ dao chém. Nhà sư né người sang một bên mà nói rằng:

- Khoan! Phòng này chật hẹp quá, không phải là nơi đấu võ. Vả như ngươi có dao mà ta tay không. Chẳng lẽ nhà ngươi lại hèn nhát đến thế. Có giỏi hãy đi ngủ một giấc cho khoẻ khoắn đã rồi sáng mai lên ngọn đồi sau chùa, cùng ta tỉ thí. Ngươi có ưng thế không, Phạm Thái?

Phạm Thái, nghe nhà sư đọc đến tên mình thì giật mình kinh hãi. Phổ Tĩnh liếc mắt thấy vậy liền bất thình lình nhẩy lại giật phắt lấy con dao rồi mỉm cười bảo:

- Phạm Thái, chú có dao còn không làm gì nổi ta, bây giờ con dao ấy đã sang tay ta, vậy chú nghĩ sao?

Phạm Thái cũng mỉm cười:

- Ðiều đó không cần biết vội, hãy hỏi nhà sư điều này: Sao nhà sư nhận được tôi là Phạm Thái?

- Hỏ dở, một nghìn quan tiền thưởng của triều đình, ngươi bảo dễ không đáng khiến ta lưu ý đến diện mạo nhà ngươi chăng?

Phạm Thái không nén được lòng tức giận, thét mắng:

- Thằnng sư hổ mang kia! Tao cho phép mày bắt tao đem nộp mà lĩnh thưởng.

Nhà sư lạnh lùng bỉu môi, đáp:

- Nhưng ta đã trót hứa với nhà ngươi rằng mai lên đồi đấu võ mất rồi!

- Ta không thèm đấu võ với quân khốn nạn đội lốt sư để đi do thám cho giặc của nhà Lê!

- Khá đấy! Phạm Thái anh hùng đấy! Còn kẻ đang đêm lẻn vào phòng này để giết trộm thì Phạm Thái liệt vào hạng gì?

Phạm Thái phần xấu hổ, phần căm tức, sấn lại đánh nhà sư, nhưng nhà sư nhanh nhện tránh sang một bên mà lớn tiếng hỏi:

- Thong thả, Phạm Thái có biết ông Trần Quang Châu là ai không?

- Sao ta không biết? Bậc trung thần ấy là bạn của thân phụ ta khi xưa, sao ta lại không biết? Nhưng ta cấm thằng ác tăng kia không được đọc đến tên ngài.

Phạm Thái bỗng kêu rú lên:

- Trời ơi! Anh Trần Quang Ngọc!

- Chính ta là Trần Quang Ngọc.

Phạm Thái vội sụp lạy xuống đất, tạ tội:

- Anh ta chết cho em, vì em thật đáng chết.

Trần Quang Ngọc đỡ Phạm Thái dậy mà nói rằng:

- Chúng ta quen biết nhau từ thuở nhỏ. Ngày nay anh còn nhận sao được mặt tôi, nhất tôi lại ẩn núp trong bộ thiền phục.

Hai người mừng rỡ đem truyện riêng ra kể cho nhau nghe. Phạm Thái nói:

- Chẳng hay sau khi bác đốc trấn bị mắc mẹo lừa ở Chí Linh rồi ra sao?

Trần Quang Ngọc ứa nước mắt trả lời:

- Khi ấy thân phụ bị bắt giải về Phú Xuân, Quang Trung dụ thân phụ quy hàng, thân phụ nhất định không chịu nghe, nên đã bị hắn hại rồi, còn đâu.

- Thằng giặc già! Cha chúng mình cùng chết về tay nó. Nhưng đại huynh còn cặm cụi chống chọi mãi với quân Tây sơn kia mà?

- Phải, được gần một năm. Vả hiện giờ đồ đảng của tôi cũng còn tới hơn nghìn, tản mạn ở khắp các trấn, nếu cần dùng đến, có thể có ngay. Nhưng còn hiều hữu, nay định đi đâu?

- Tôi cũng chẳng biết đi đâu.

- Ngày hiền hữu ở bên Nguyễn Ðoàn, tôi vẫn có ý muốn sang theo, nhưng sau biết Nguyễn Ðoàn không phải tay làm nổi việc lớn, nên lại thôi.

- Thế thì đại huynh có con mắt tinh đời lắm. Quả thực, Nguyễn Ðoàn là một tay chủ trại tầm thường, chẳng qua chỉ sai khiến nổi một bọn lâu la ô hợp mà thôi, hiểu làm sao được chí lớn của anh em mình. Nếu hắn biết theo bài quân yếu về mấy thế chiến công của tôi thì đâu đến nổi.

Quang Ngọc cười, hỏi:

- Tôi nghe nói bài quân yếu của hiền hữu có thể so sánh với những binh thư có tiếng của cổ nhân như Lục Thao Tam Lược của Thái công, Thập Tam Thiên của Tôn Tử...

Phạm Thái gạt đi mà rằng:

- Ðại huynh nói quá. Tôi tài hèn đâu dám ví với các bậc đại tướng xưa.

Hai người chuyện trò với nhau mãi đến sáng về binh lược, võ nghệ. Hôm sau Trần Quang Ngọc khuyên Phạm Thái thế phát quy y đễ dễ trốn tránh, rồi nhân chùa Liên Ðài ở xã Nghiêm Xá chưa có ai trụ trì (vì vùng ấy loạn lạc không nhà sư nào dám ở tu) Phổ Tĩnh thiền sư liền cắt Phạm Thái về đó lấy đạo hiệu là Phổ Chiêu thiền sư.

Phạm Thái vừa đi vừa ôn lại trong trí quãng đời dĩ vãng. Chàng lấy làm lạ rằng Phổ tỉnh thiền sư tức Trần Quang Ngọc là một tay võ nghễ cao cường mà còn bị Lê Báo bắt thì không hiểu Lê Báo sức khoẻ đến bực nào. Mà nếu Phổ Tĩnh đã bị bắt cóc, sao lại còn có bức thư gọi mình sang hội diện. Hay là bức thư man trá? Nhưng chín tay Nhị Nương đưa cho ta kia mà. Vả xét tự dạng thì đích là thư của Phổ Tĩnh rồi, Chắc có điều gì bí mật chi đây.

Phạm Thái mải suy nghỉ đến nỗi tới đò Thọ Khê mà vẫn không biết. Mãi lúc bị lính giữ lại hỏi, chàng mới giựt mình như choàng thức dậy:

- Nhà sư kia đi đâu?

Một viên đội cười bảo tên lính của mình:

- Sư ông Phổ Chiêu ở chùa Nghiêm Xá mà chú không biết hay sao?

Liền vẫy tay cho phép nhà sư xuống đò.

Thấy sự canh phòng nghiêm mật, Phạm Thái càng nóng ruột về câu chuyện xảy ra ở tửu quán... Vì thế, trước khi đến Tiêu Sơn, chàng đi thẳng tới hàng nhà Ngỗng (bạn đồng chí của chàng thường hội họp ở đấy) để dò tin tức.

Thấy cửa quán đóng im ỉm, chàng liền gõ năm tiếng, đó là hiệu riêng của đảng. Người chủ quán thì thầm mấy câu rồi đóng sập cửa lại. Trong lòng mừng rỡ, Phạm Thái thong rong bước lên chùa Tiêu Sơn.