Trống Ðồng Cổ-Lệ

Thanh Long


Truyện không ghi trong lịch sử

 

"Gương anh linh đã bao lần vấy máu,

Hồn xác xây thành, thời gian huống vô tình..."

Mặt trời lên đỉnh đầu. Cái nóng dường như gay gắt hơn. Tất cả người dân trong thôn Cổ-Lệ không bảo nhau mà tự nhiên cùng ngưng công việc để nghỉ trưa. Mọi âm thanh sinh hoạt hàng ngày như tiếng họ họ trâu bò kéo cày ngoài ruộng, tiếng đe tiếng búa từ các lò rèn đều im bặt hẳn. Ðây đó chỉ còn tiếng đám trẻ đùa chơi đuổi bắt. Lâu lâu tiếng gà gáy trưa lanh lãnh vang lên. Khung cảnh toàn thôn Cổ Lệ trông thật thanh bình, êm ả.

Nhưng sự bình lặng này chỉ là ở ngoài bề mặt, nếu ai nhìn kỹ sẽ thấy nét mặt của mọi người trong thôn đều có vẻ nôn nóng chờ đợi Nhất là mấy cụ già ngồi trước chái hiên nhà. Ánh mắt các cụ cứ dõi trông theo con đường đất chạy về phía rặng núi xa xôi sau làng. Hàng ngày gần giữa trưa, các cụ ra trước cửa, chờ con cháu từ nơi làm việc trở về nhà ăn cơm. Mà kỳ thật, hôm nay mặc dầu con cháu đã về, các cụ vẫn chưa thôi. Các cụ vẫn còn như ngóng ai nữa. Sau vài phút chờ đợi các cụ lại thất vọng đi vào nhà. Bên ngoài chỉ còn lũ trẻ vô tư ham chơi, đợi bố mẹ ra hò hét chúng mới chịu vào ăn cơm.

Nhưng đúng lúc mọi người không ngờ nhất thì đột nhiên trên con đường đất, từ phía chân núi, một đốm bụi nổi lên, mới đầu thật nhỏ, rồi to dần, chạy nhanh về phía Cổ-Lệ Lũ trẻ vẫn chơi đùa; người lớn vẫn lo cơm; không ai hay biết về đốm bụi đó. Bây giờ đốm bụi đã lộ rỏ thành một chấm đen, đi động thật nhanh, và kèm theo chấm đen là những âm thanh dồn dập, gấp rút...cà rọc,cà rọc,cà-rọc. Mới thoáng chốc âm thanh lớn hẳn, vang vọng đến tận thôn làng. Một con chó thính tai phát hiện ra âm thanh lạ trước nhất, và sau đó các con chó khác cũng thi nhau sủa vang rân lên. Lũ trẻ nghe chó sủa bèn ngưng chơi ngó ra đường. Thì ra đó là tiếng vó ngựa. Cái chấm đen bây giờ đã trở thành một kỵ mã. Lũ trẻ bỏ hẳn trò chơi. Mấy đứa bé nhất vội chạy lại nép vào mình anh chị và chăm chú nhìn người kỵ mã. Ðó là một chàng thanh niên khuôn mặt phong trần, dạn dày sương nắng, và đầy nghị lực rắn rỏi. Dáng dấp chàng nhuộm vẻ mỏi mệt, có lẽ vì đã đi đường rất lâu. Bộ y-phục chàng mặc sờn rách nắng mưa, phủ đầy bụi bặm. Trên lưng chàng đeo một thanh đao và một túi vải khá to. Nhìn chàng có vẻ giống như một chàng tráng sĩ mới đi trận về.

Lúc đi ngang lũ trẻ, chàng kỵ mã chỉ im lặng nhìn thoáng chúng một cái chứ không hỏi hay nói gì cả Vẫn điệu bộ hối hả chàng thúc ngựa tiến thẳng, hướng đi dường như là về phía nhà vị thôn trưởng.

- A... A... bây ơi, anh Ðại –Hùng đã về, anh Ðại Hùng đã về!

Cái Nhị Và thằng La, hai đứa trẻ lớn nhất đám vừa nhận ra chàng kỵ mã. Chúng nó giọng mừng rỡ la lớn lên rồi chạy vội về thông báo cho cả thôn biết.

- Ơi! Bác Lạc ơi, anh Ðại về!... Ơi! Các bác ơi anh Ðại về!

- A... anh Ðại về... anh Ðại về...

Những đứa bé hơn Nhị và La không biết gì cũng nhảy cà tơn, hùa theo la lớn. Tiếng trẻ lao nhao bên ngoài làm tất cả người lớn phải chạy ra cửa xem chuyện gì. Như dự Ðoán, chàng kỵ mã đã tới trước nhà vị thôn trưởng. Chàng ghì cương giảm tốc độ và nhảy xuống ngựa. Thằng La chạy theo đuôi ngựa cũng vừa tới nơi. Như quen đường đi nước bước, nó tự nhiên mở cổng chạy vào thông báo cho vị trưởng thôn.

- Cụ Hàn ơi, anh Ðại đã về kia rồi!

- Thật không? Thật không? Ðâu nào?

Một ông cụ tóc búi, râu dài bạc phơ, dáng người quắc thước, lưng hơi còm từ trong nhà chống gậy vội vã bước ra. Khi cụ vừa bước ra cửa thì chàng trai đã vào tới. Thoáng thấy cụ Hàn, chàng trai liền đưa tay gỡ lấy túi vải sau lưng, lục tìm trong đó lấy ra một mãnh vật bằng bàn tay, màu rêu xanh đậm, hình thù như cục đá. Rồi chàng trân trọng nâng mãnh vật lên ngang mày, qùy xuống bẩm chào:

- Bẩm cụ trưởng, con đã hoàn thành sứ mệnh, vừa về tới.

- Ồ kìa con, con đứng dậy mau, hãy vào đây.

Rất nhanh cụ đưa tay đỡ chàng trai đứng dậy. Rồi cụ đưa mắt nhìn về phía dám dân làng đang đứng lố nhố, bàn tán sầm sì đằng sau lưng chàng traị Cụ nói lớn:

- Hãy về thông báo các gia trưởng đến đình làng ta họp khẩn cấp. Các người cũng mau về nhà chuẩn bị tiệc đón mừng cậu Ðại...

Mặc dầu thôn trưởng đã ra lệnh, đám đông vẫn còn nấn ná. Có người chạy đi thông báo lệnh của cụ Hàn. Có người bước ra khỏi đám đông đi theo cụ về phía đình làng. Trong số những người này có vị tên là Lạc Hùng, mọi người quen gọi bác Lạc. Vừa thấy bác Lạc, chàng trai tên Ðại-Hùng cung kính chắp tay thưa:

- Thưa cha, con vừa về tới, vì chuyện gấp nên chưa thăm nhà, xin lỗi cha.

- Ồ, cả nhà biết con về nên đến đây. Mẹ con đang đứng đàng kia với Mỵ-Lan. Sau cuộc họp ta sẽ gặp nhau.

Ðại nhìn theo hướng tay cha, nơi đó mẹ chàng đang lấy tay lau mắt. Nét mặt đầy vẻ cảm động, bà sung sướng nhìn đứa con từ phương xa trở về. Và khuất sau lưng bà là cô gái trẻ, dáng dấp hiền dịu. Ðaị Hùng nhìn rõ mẹ và Mỵ Lan một chút rồi cũng bước theo cụ Hàn. Ðám đông từ từ tản mác ra về. Họ vừa đi vừa bàn tán về cuộc họp sắp diễn ra ở đình. Trong thâm tâm ai cũng linh cảm rằng có chuyện hệ trọng sắp xảy ra cho thôn làng.

Trong gian chính điện, trên chiếc chiếu hoa khổng lồ, các vị bô lão chức sắc và gia trưởng đang ngồi xếp bằng im lặng. Trước mặt họ trên bàn thờ tổ tiên của tộc Lạc Việt có lư hương trầm nghi ngút khói baỵ Nét mặt của vị nào cũng nghiêm trọng. Họ đợi cụ Hàn khởi xướng lễ bái vấn linh với tổ tiên. Tục vấn linh tổ tiên rất quan trọng cho những quyết định liên quan đến vận mệnh của thôn làng.

Sau ba hồi trống, một hồi chiêng, cụ thôn trưởng áo mũ nghi lễ đạo mạo, tiến đến trước bàn thờ cẩn kính khẩn bái. Sau đó cụ thắp nhang và bảo Ðại Hùng vái theo mình. Tất cả mọi người cũng đồng loạt thành kính cuối đầu cung bái.

Lễ bái vấn linh tổ tiên xong, cụ Hàn xoay mình lại nhìn các vị gia trưởng nói:

- Các vị trưởng gia của làng. Hẳn quí vị còn nhớ lệnh vua ban hành cách nay hơn một năm rằng quân nhà Thục đang ngắp nghé ngoài cương vực nước tạ Khắp toàn cõi Văn Lang phải chuẩn bị chống giặc ngoại xâm...

Cụ Hàn ngưng một chút như để lấy hơi rồi noí tiếp;

-...Làng ta từ xưa đến nay, cha truyền con nối, tiếng tăm lẫy lừng về nghề đúc vật dụng và binh khí bằng đồng. Bởi thế vua đặc giao chúng ta trọng trách cung cấp binh khí cho quân sĩ phòng chống giặc. Quý vị cũng biết bao nhiêu vật dụng bằng đồng chúng ta đã gom nhặt hết mà vẫn không đủ. Bởi thế chúng ta đã cử người đi tìm quặng đồng. Ðại Hùng là một trong những người được cử đi tìm. Hôm nay Ðại-Hùng trở về, sứ mạng tìm quặng đồng hoàn thành. Giai đoạn đầu đã hoàn tất. Bây giờ chúng ta phải thực hiện giai đoạn hai, khó khăn hơn, là đi khai thác quặng đồng và đúc binh khí. Như các vị thấy, thời hạn vua giao cấp bách. Ta không còn bao lâu thì giờ nữạ Các vị hãy về sắp xếp và giao phó công việc cho người thân. chúng ta phải lập tức tuyển lựa người và chuẩn bị lên đường trong nay mai...

Nói đến đó cụ Hàn ngưng lại trầm ngâm, ánh mắt của cụ ưu tư nhìn mọi người. Toàn gian chính điện im phăng phắc, một con muỗi bay cũng nghe tiếng. Nét mặt ai cũng đăm chiêu. Trong lòng họ vừa nổi lên những cảm giác phức tạp. Họ kiêu hãnh được vua giao trọng trách khó khăn, góp phần bảo vệ bờ cõi giang san, một vinh dự không phải thôn làng nào cũng được. Nhưng họ cũng lo cho ngày tháng cam go sắp đến. Họ phải bỏ thôn làng đi đến nơi xa xôi, cách biệt người thân. Ai sẽ trông nom gia đình, nhà cửa. Những đứa bé thơ, ai sẽ dạy dỗ. Cụ Hàn cũng có nỗi lo riêng. Cụ rất thương dân. Họ là gia đình của cụ, là con cháu sống với nhau bao nhiêu đời. Bây giờ vì trọng trách họ phải ra đi để hoàn thành sứ mệnh. Cuộc hành trình đi khai thác quăng dữ nhiều lành ít. Biết cụ còn sống đến ngày đoàn viên con cháu hay không? Mà lệnh vua ban thì phải thi hành, bấc giác cụ thở dài...

Im lặng một thoáng cụ Hàn xoay qua Ðại-Hùng tiếp tục nói:

- Ðại-Hùng, con hãy thuật lại cuộc hành trình đi tìm quặng đồng, chỉ cho mọi người biết điạ điểm ở đâu, hãy nói rõ những khó khăn mà người đi khai thác quặng có thể gặp phải. Ðể chúng ta toan liệu đường đi nước bước, chuẩn bị lương thực và vật dụng cần thiết cho việc lên đường.

Ðại Hùng đứng dậy thuật lại cuộc đi tìm quặng đồng gian nan vừa qua của mình:

- Thưa các vị trưởng bối, mỏ đồng được tìm thấy tại một nơi xa xôi hẻo lánh, trong địa vực núi Ba-Vì. Ðoàn truy tìm quặng đi ngày đêm vất vả, ròng rã mấy tháng mới đến chân núi. Trên đường vì phải xông pha vào sơn lam chướng khí, vật lộn với thú dữ, nên nhiều người nhuốm bệnh, gục ngã. Những người còn lại vẫn tiếp tục lên núi tìm đến chỗ nghe nói có quặng đồng. Phải mất thêm một thời gian chúng con mới tìm thấy...

Tin quặng đồng được tìm thấy, và quyết định đi khai thác đồng được truyền đi nhanh như gió thổi. Bắt đầu từ thôn Cổ-Lệ tin tức tràn sang các thôn khác. Sau đó người ta tuyển lựa thợ và trai tráng, cùng chuẩn bị vật liệu hành trang cho chuyến đi tới núi Ba-Vì. Không nói nhưng ai cũng biết rằng chuyến đi này đầy gian lao, vô hạn định. Từ đầu thôn đến cuối thôn tất cả người dân đều bận rộn. Kẻ lo ngựa bò, xe kéo. Kẻ lo thóc lúa, lương thực, búa rìu, cuốc, mai, thuổng. Những người vợ, người mẹ lo may thêm quần aó ấm cho con, cho chồng. Những người chồng, người cha lo chỉ bảo, truyền lại cho các đứa con lớn những điều cần làm khi họ vắng nhà. Chúng được căn dặn kỹ lưỡng từng thứ một như trông nom gia súc, rộng vườn, cũng như chăm sóc cho mẹ và em. Con Nhị và thằng La không còn được chơi đùa thoải mái như trước nữa. Ðứa lo phụ giúp mẹ đong lúa gạo vào bao, đứa lo phụ cha đóng lại cỗ xe ngựa

Mỵ Lan cũng cặm cụi may cho Ðại-Hùng một chiếc áo khoác ngoài. Chiếc áo được may từ mấy tháng nay, khi Ðại-Hùng bận thi hành sứ mạng nơi xa xôi. Với từng đường chỉ, mũi kim, nàng gởi hết tâm tình vào trong chiếc áo cho người yêu. Bây giờ áo may gần xong, nàng tỉ mỉ thêu ở một góc kín đáo hai chữ “Hùng-Lan” lồng trong đôi cánh hạc.

Nghĩ đến lúc trao áo cho chàng, Mỵ-Lan sung sướng, bồi hồị Nhưng cảm giác sung sướng chưa kéo dài lâu thì Mỵ-Lan lại thấy một nổi buồn vời vợi dâng lên trong lòng. Mỵ-Lan buông tiếng thở dài. Ðại-Hùng sẽ ra đi lần nữa, nàng sẽ khắc khoải chờ đợi thêm bao nhiêu ngày tháng. Kể từ khi biết yêu nàng ghét sự chờ đợi. Nàng thầm hỏi không biết Ðại-Hùng có yêu nàng tha thiết như nàng đang yêu hay không. Từ nhỏ nàng và Ðại-Hùng thường cùng các trẻ con trong thôn chơi đùa thân thiết với nhau, không phân biệt sang hèn. Rồi theo thời gian, mọi người khôn lớn. Họ vẫn làm bạn với nhau vô tư, thân tình. Nhưng khi nàng mười ba tuổi thì trái tim nàng biết rung động. Nàng bắt đầu để ý Ðại-Hùng, một thiếu niên thông minh, tháo vác và hay giúp đỡ kẻ khác. Nhưng oái oăm thay, ở lứa tuổi đó Mỵ-Lan cũng bắt đầu nhận ra được thân phận của nàng và từng đứa trẻ trong thôn.

Nàng là con gái của vị thôn trưởng, có dòng tộc với một Lạc tướng dưới triều vua Hùng-Tuấn-Vương. Vị thôn trưởng đó là cụ Hàn, một vị quan hồi hưu, có võ nghệ tiếng tăm lẫy lừng, vang danh khắp cả bộ Châu-Diên, một trong mười lăm bộ của toàn cõi Văn Lang. Trong khi đó cha của Ðại-Hùng chỉ là thợ đúc đồ đồng. Giống như cha mẹ của những đứa trẻ khác, bác Lạc chỉ là người dân bình thường sống trong thôn Cổ-Lệ, dưới sự quản hạt của Cụ Hàn.

Nhưng Mỵ Lan chẳng màng thân thế mình, nàng vẫn chơi với các bạn trong thôn. Chỉ có tình cảm là nàng dấu kín tận đáy lòng, có lẽ vì thân phận, cũng có lẽ vì nàng là con gái. Ngược lại Ðại-Hùng không hề để ý đến thân phận, cũng không biết rằng Mỵ-Lan đã cảm mến mình. Chàng vẫn đối tốt với Mỵ-Lan. Mỗi khi Mỵ-Lan cần gì chàng phụ giúp ngaỵ Hoặc khi thấy Mỵ-Lan buồn, chàng vỗ vễ an ủi, rủ nàng bày trò vui với các bạn.

Từ để ý đi đến tình yêu chỉ trong khoảnh khắc, càng trưởng thành Mỵ-Lan càng yêu Ðại-Hùng. Tháng ngày trôi qua, nàng yêu trong thầm lặng, từ mười bốn tuổi, đến mười lăm, rồi mười sáu. Nàng cảm thấy vui thích mỗi khi có chàng bên cạnh. Nhất là những khi Ðại-Hùng cùng những chàng trai trong thôn đến nhà cụ Hàn học múa đao, luyện võ.

Nàng mượn cớ bưng trà cho cha, ra ngồi đưới ánh trăng theo dõi Ðại-Hùng đi những đường quyền công phu do cha nàng dạy. Dáng đấp hiên ngang của Ðại-Hùng làm cho tim nàng thổn thức. Mỵ-Lan cứ hy vọng một ngày nào đó Ðại-Hùng dọ thấy tình yêu của nàng.

Tưởng thời gian trôi qua, giấc mộng yêu đương của nàng Mỵ-Lan sẽ thành toại. Có đôi khi Ðại-Hùng ngờ ngợ thấy trong đôi mắt Mỵ-Lan thoáng nhẹ ân tình, nhưng chàng lại chẳng cho đó là gì. Thật ra trong lòng Ðại-Hùng cũng mến Mỵ-Lan. Nhưng chàng không đám nghĩ xa xôi vì tự nơi Mỵ-Lan toát ra vẻ gì đó cao sang mà chàng nghĩ rằng khó với tới.

Mà đuyên kiếp là điều lạ kỳ, dù người có vô ý, kẻ có vô tình, tơ duyên vẫn có cách ràng buộc phận người ta vào nhau. Số là khi Mỵ-Lan vừa tròn mười tám tuổi, vào đúng tháng giêng thì cụ Hàn có việc phải đi Phong-Châu. Ðường xá xa xôi, cộng với tuổi gìa sức yếu, cụ muốn có ai đi cùng nên đã cho vài môn sinh cụ yêu thích và Mỵ Lan đi theo. Cụ muốn nhân cơ hội này cho con đi trảy hội mùa xuân ở xứ kinh đô phồn hoa đô hội một lần. Mỵ-Lan vui thích lắm, chưa bao giờ nàng được cha cho ra khỏi thôn Cổ-Lệ đừng nói chi đến tận kinh đô xa xôi, mà nhất là có Ðại-Hùng cùng đi. Nàng nóng lòng đợi ngày đi, vui sướng khi nghĩ đến lúc sẽ thấy tận mắt nơi chốn vua cư ngụ Nhưng nàng đdâu ngờ chuyến đi này sẽ đưa tình cảm của nàng vào một khúc quanh liên hệ đến kẻ thứ ba.

Ðúng cuối tháng giêng, cụ Hàn cùng con gái và Ðại Hùng khăn gói lên đường đi đến kinh thành. Nhưng lúc đến Phong-Châu, cụ Hàn lại ghé thăm gia trang của lão bá Phù-Bạch-Vân, nằm ở ngoại thành. Ðó là một khuôn viên yên tĩnh chung quanh có trồng tre trúc thật cao. Trước nhà, trên miếng sân vuông lớn có trồng cây ăn trái và hoa thật đẹp. Thoáng nhìn toàn cảnh gia trang người ta biết ngay đó là dinh cơ của một vị quan hồi hưu chứ không phải của dân thường.

Ðúng vậy lão bá Bạch-Vân là vị quan Lạc Hầu, cũng là bạn chí thân của cụ Hàn lúc trẻ. Tuy một người là quan văn, một người là quan võ, nhưng họ rất hợp nhau. Thuở còn tại chức, mỗi ngày sau khi xong việc trong triều về, họ thường ghé nhà nhau đàm đạo về thế sự và uống trà rất tương đắc. Tình bạn của họ khắng khít. Nhưng khi đến tuổi hồi hưu, cụ Hàn chọn về quê, còn lão bá Bạch Vân thì chọn ở lại kinh đô. Ông vẫn còn tới lui với các quan trong triều. Ðã bao năm xa cách nhau, cụ Hàn thật mong muốn thấy lại người bạn xưa, nên lần này nhân cơ hội ra kinh đô tìm hiểu xem vua cho vời vào triều có việc gì, cụ đã ghé thăm bạn.

Sau khi xưng danh tánh cho người nhà của lão bá Bạch Vân, cụ Hàn và đám tuỳ tùng đứng chờ ngoài ngõ. Ðợi một chút họ thấy một đám gia nhân hối hả chạy vụt ra mở cổng mời vào. Liền sau đám gia nhân là một ông lão dáng bộ cũng hấp tấp chạy ra nghênh đón. Miệng ông lão quát tháo gia nhân mỡ tiệc đãi khách. Vừa thấy cụ Hàn ông lão mừng rỡ chắp hai tay vái chào và nói lớn:

- Ồ lão huynh, lâu rồi mới thấy lão huynh ghé tệ xá của đệ

Cụ Hàn cũng mừng rỡ không kém:

- Lão đệ, em vẫn khỏe mạnh như xưa hả

Hai ông lão tay bắt mặt mừng rối rít, mặc cho hai trẻ Mỵ-Lan và Ðại-Hùng đứng lớ ngớ. Sau đó lão bá Bạch Vân mời tất cả vào tư thất. Vừa vào cửa mọi người thấy một bà lão và một chàng trai trạc tuổi Ðại-Hùng đang đứng chờ đón. Chàng trai đó khôi ngô, tuấn tú, mặ bộ y-phục võ tướng, dáng người hiên ngang. Lão bá Bạch Vân vội giới thiệu:

- Ðây là phu nhân của lão, còn đây là con trai lão, Phù-Nguyên, mới làm việc ngoài triều trở về.

Cụ Hàn cũng vội giới thiệu con gái và môn sinh mình. Mọi người cùng thi lễ chào nhau. Mỵ-Lan bất chợt thấy Phù-Nguyên đưa mắt nhìn nàng không chớp. Nàng đỏ mặt thẹn thùng. Ánh mắt của Phù-Nguyên thật lạ, chưa có ai nhìn nàng như vậy. Mỵ-Lan đang lúng túng chưa biết làm gì thì nghe lão bá Bạch Vân nói:

- Phu nhân, bà hãy vào bếp coi người nhà làm tiệc tới đâu rồi, còn Phù-Nguyên, con hãy đưa khách vào trong sắp xếp chỗ nghỉ ngơi, rồi đưa họ dạo chơi. Cha muốn khách ở đây thật lâu.

Nói xong ông quay sang cụ Hàn hỏi:

- Như vậy có được không lão huynh?

Cụ Hàn cười vui vẻ nhận lời. Và thế là hai ông lão ngồi lại hàn huyên với nhau thật lâu như thuở còn làm quan.

Phù-Nguyên sắp xếp phòng ngủ cho Ðại Hùng và Mỵ Lan xong liền rủ hai người đi vào thành Phong Châu ngắm cảnh. Tất cả đồng ý. Phù-Nguyên đi trước dẫn đường, Mỵ Lan và Ðại-Hùng theo sau. Trong thành người ngựa đông đúc, nhộn nhịp. Mỵ-Lan và Ðại-Hùng say mê ngắm cảnh người đi trảy hội mùa xuân. Khắp nơi hoa đào, hoa mai nở rộ Lâu lâu gió muà xuân thổi, ngàn cánh hoa bay trong gió phủ lên tóc, lên áo người.

Hai bên đường phố đi vào cổng thành có những xạp hàng bán nhiều món vật lạ thật đẹp mà Ðại-Hùng và Mỵ Lan chưa thấy bao giờ. Hai người thích thú giơ tay chỉ trỏ hỏi Phù-Nguyên, khiến Phù-Nguyên không ngớt lời giải thích. Chẳng mấy chốc ba người trở thành bạn thân. Lúc đi ngang gian hàng bán kẹp tóc, Ðại-Hùng không biết nghĩ gì, để cho mọi người đi trước rồi ghé vào mua một chiếc kẹp đồi mồi màu xanh biếc. Chàng định bụng sẽ tặng cho Mỵ-Lan chiếc kẹp này.

Mỵ-Lan vui như trẻ thơ. Nàng quên hết cử chỉ e-dè, nhẹ nhàng của người con gái. Tới các gian hàng tơ lụa, nàng mân mê sờ và ướm thử. Ðẹp quá, chưa từng thấy ở Cổ-Lệ, nàng buộc miệng thầm khen mà như nói với Phù-Nguyên. Riêng Phù-Nguyên, từ buổi đầu gặp gỡ Mỵ Lan, chàng đã mến thật nhiều cô gái hồn nhiên, ngây thơ này. Chưa có người con gái nào làm chàng rúng động như vậy. Suốt buổi đường vào Phong-Châu, chàng ngầm nhận xét Mỵ-Lan khi nàng nói chuyện với Ðại-Hùng. Dáng vẻ yêu kiều, giọng nói dễ thanh trong của Mỵ-Lan càng làm Phù-Nguyên thêm để ý. Chàng thấy Mỵ Lan và Ðại-Hùng nói chuyện không có vẻ là tình nhân nên chàng thầm ước được làm bạn với nàng. Thấy Mỵ-Lan thích tơ lụa, chàng mua một chiếc khăn tặng nàng. Nhưng Mỵ-Lan từ chối. Phù-Nguyên năn nỉ nàng nói rằng của lòng thành chàng tặng khách phương xạ Maĩ một lúc sau Mỵ-Lan mới chịu nhận. Khi Phù-Nguyên trao khăn, một làn gió vô tình thổi, chàng vội chụp lấy không ngờ nhằm tay Mỵ-Lan. Dúng lúc ấy Ðại-Hùng theo kịp tới. Từ sau lưng Phù-Nguyên, chàng nhìn thấy cử chỉ của hai người. Dại-Hùng chợt nghe lòng chùng xuống. Mỵ-Lan nghiêng đầu, thấy ánh mắt của Ðại-Hùng. Nàng vội rụt tay, và đi nhanh về phía trước thăm các gian hàng khác. Phù-Nguyên vô tình không biết gì, chỉ nghĩ rằng Mỵ-Lan e-lệ

Dạo cảnh xong, trên đường về, mọi người yên lặng theo đuổi ý riêng tư. Ðại-Hùng bắt đầu thấy rõ lòng mình yêu Mỵ-Lan. Chàng chợt hối tiếc từ lâu không định được tình cảm của mình. Mỵ-Lan thì bâng khuâng nghĩ tới ánh mắt của Phù-Nguyên và dáng điệu buồn bã của Ðại-Hùng. Với nhạy cảm của người con gái, nàng biết cả hai đang có cảm tình với mình. Nàng thấy lòng yêu Ðại-Hùng mà chàng vô tư quá. Ðại-Hùng buồn có lẽ chỉ vì có người để ý đến nàng. Ðối với Phù-Nguyên, tuy ánh mắt đó có làm nàng bối rối, nhưng như thế chưa có thể là yêu. Còn Phù-Nguyên thì nét mặt của chàng rất bình thản, không ai biết chàng đang nghĩ gì.

Mỵ Lan đang miên man hồi tưởng về chuyến đi thành Phong Châu hôm nào, bất chợt nghe cótiếng cụ Hàn ở gian nhà trên vang lên:

- Mỵ-Lan! Mỵ-Lan đâu rồi ra đây cha bảo?

- Vâng, con ra ngay

Giòng ký ức của nàng bị gián-đoạn. Mỵ-Lan vội bỏ chiếc áo đang thêu lên giường rồi chaỵ đi gặp cha.

- Dạ, thưa cha con đây, cha bảo gì con?

- Con thấy áo giáp da trâu và vũ khi cha cất đâu không? Tìm cho cha để cha trao Ðại-Hùng. Tội nghiệp nó phải lên đường lần nữa. Con cũng chuẩn bị quần aó cho nó nhé!

- Thưa vâng, con may aó xong rồi sẽ đem mọi thứ trao cho chàng.

Tìm cho cha các món binh khí xong nàng Mỵ-Lan lại quay trở vô bếp may áo và tiếp tục nhớ lại chuyện đi thăm nhà lão bá Bạch vân. Nghĩ lại hôm ấy nàng thầm cảm ơn cha. Ông đã thương nàng và chấp thuận ý muốn tình cảm của nàng, Vì nàng mà ông đã huỷ bỏ hôn ước năm xưa, hứa gã con gái cho con trai lão bá Bạch Vân. Nàng cũng cảm kích lòng hiểu biết của Phù-Nguyên, khi chàng nói với cha chàng rằng chưa muốn lập gia đình để cứu nàng ra khỏi tình huống khó xử hôm ấy.

Nhớ đến buổi tối hôm ấy, sau khi đi ngắm cảnh thành Phong-Châu về, ăn tối xong, bất chợt lão bá Bạch Vân đứng dậy nói với cụ Hàn:

- Lão huynh, lâu rồi ta mới gặp lại. Anh còn nhớ năm xưa mình đã nói nếu có con trai sẽ cho chúng kết huynh đệ, còn nếu có con trai và gái thì cho chúng kết hôn. Anh còn nhớ không?

Cụ Hàn khề khà xoay người nhìn Phù-Nguyên và Mỵ-Lan trả lời:

- Nhớ chứ, nhớ chứ làm sao quên được! Mỵ-Lan con có chịu không?

Bất ngờ nghe nói về lời hôn ước năm xưa, Mỵ-Lan, Ðại-Hùng và Phù Nguyên đều sững sờ không tin vào tai mình. Quả là trớ trêu, những cảm tình họ có cho nhau từ nhỏ đến lớn, hay từ lúc đầu gặp gỡ, bỗng nhiên thành vô nghĩa. Ý cha mẹ là trên hết.

Mỵ Lan bối rối vô cùng. Tự nhiên nàng bị đặt vào thế đã rồi. Nàng nhìn Ðại-Hùng, ánh mặt của chàng đang ánh lên nét đau đớn khổ sở. Cũng thật nhanh trong đầu Mỵ-Lan hiện ra bao nhiêu kỷ niệm của nàng và Ðại-Hùng từ nhỏ đến lớn. Từ giọng nói của chàng, đến sự che chở vỗ về, tất cả những hình ảnh đó đã chất chứa trong tim của nàng. Không! Nàng chỉ yêu Ðại-Hùng, trước sau là một. Nàng xúc động mạnh, sợ bị oà khóc, nàng vội tìm cớ kiếu từ mọi người và bỏ đi vào phòng trong.

Tất cả diễn biến trên khuôn mặt của Mỵ-Lan và Ðại-Hùng đều không qua khỏi ánh mắt của Phù-Nguyên, và chàng hiểu tất cả. Chàng vội nói với cha:

- Thưa cha, con chưa muốn lập gia đình. Xin cha hãy hoãn lại.

Cụ Hàn hình như cũng hiểu ý con gái mình nên mở lời phụ họa với Phù-Nguyên:

- Có lẽ con gái tôi cũng vậy. Thôi hãy thong thả.

Sau hôm ấy, cụ Hàn biêt’ được lòng Mỵ-Lan đã quyết thương Ðại-Hùng. Ông trầm ngâm suy nghĩ thật lâu, rồi quyết định chiều đứa con gái duy nhất. Ðợi sau khi triều-yết vua Hùng Tuấn Vương về, ông bàn bạc với lão bá Bạch Vân thật lâu về thế sự rồi nhân tiện xin huỷ bỏ hôn ước. Lão bá Bạch Vân là người hiểu biết nên chấp thuận.

Nàng Mỵ-Lan mừng khôn tả. Tình yêu nàng mong muốn cuối cùng đã thành sự thật. Thêm vào đó nàng còn có được người bạn chân thành là Phù-Nguyên. Ðại-Hùng cũng rất cảm kích chàng trai hào khí, hiểu biết này. Lúc cụ Hàn chia tay lão bá Bạch Vân để về lại thôn Cổ-Lệ, ba người bạn trẻ này đã lưu luyến nhau không dứt, hẹn sẽ tìm thăm nhau.

Nhưng sau đócụ Hàn là ít nói hẳn. Trên đường từ Phong-Châu về Cổ-Lệ, suốt một quãng hành trình dài, cụ không nói một câu. Mỵ- Lan và Ðại-Hùng tưởng cụ còn giận nên chẳng dám hó hé một lời. Nhưng sau đó thấy cụ cứ suy tư và thở dài nên Mỵ-Lan gặn hỏi:

- Thưa cha có phải cha còn giận con

Cụ Hàn nhìn con một thoáng rồi nói:

- Không, ta không giận con. Ta có chuyện hệ trọng, chưa biết giải quyết thế nào nên lo âu vậy thôi. À, Ðại-Hùng đâu kêu hắn lại cha bảo.

Mỵ-Lan vâng dạ rồi đi gọi Ðại-Hùng lại gặp cha;

- Bẩm cụ trưởng, cụ cho gọi con?

- Ðúng vậy, ta có chuyện cần hỏi. Như vầy, lần này ta đi kinh đô không phải chỉ để gặp lão bá Bạch-Vân, mà chính là gặp vua. Chuyện cơ mật,con phải giữ kín. Hoàng thượng cho hay rằng quân nhà Thục muốn sang đánh nước ta. Ngài muốn tất cả là rèn trong nước phải đúc khí giới. Thôn Cổ-Lệ ta phải dẫn đầu. Trong thôn Cổ-Lệ, cha ngươi là thợ đúc đồ đồng giỏi nhất, vậy cha ngươi có đủ nhân công và vật liệu hay không?

Ðại-Hùng nghe cụ hỏi vậy nửa mừng nửa lo. Mừng vì cụ không la mắng chuyện của chàng và Mỵ-Lan, nhưng lại lo về tin tức triều đình mà cụ vừa cho biết. Về nhân lực trong lò rèn của cha chàng thì không đáng ngại, nhưng vật liệu thì lại là một vấn đề nan giải. Chàng hay phụ giúp bác Lạc nêu biết được quặng đồng đang khan hiếm trầm trọng. Số liệu đồ đồng dùng để đúc binh khí hiện giờ không đủ, trừ phi phải đi khai thác thêm. Mắt Ðại-Hùng chợt sáng lên, chàng trả lời cụ Hàn:

- Bẩm cụ, nhân công con nghĩ không đáng ngại, còn vật liệu thì hiện thời trong thôn không có đủ, nhưng con thường nghe cha nói về mỏ đồng chưa khai thác ở vùng tây bắc Châu-Diên. Chúng ta hãy về nha hỏi cha con để biết thêm.

Cụ Hàn nghe Ðại-Hùng nói thế cũng yên dạ. Cụ hối thúc mọi người mau mau lên tiếp tục lên đường về thôn Cổ-Lệ

Sau đó Ðại-Hùng vâng mệnh đi tìm mỏ đồng ở núi Ba-Vì. Chàng tình nguyện đi để cảm tạ lòng ưu ái của cụ Hàn dành cho chàng. Chỉ buồn cho Mỵ-Lan, nàng mới vừa rõ lòng người yêu mà đành chịu xa cách nhau, để nàng chờ đợi suốt năm trường. Bây giờ chàng trở về chưa kịp mừng tủi thì nàng lại phải chuẩn bị cho chàng ra đi lần nữa. Bất giác Mỵ-Lan nhỏ giòng lệ lên chiếc áo nàng vừa thêu xong. Ngoài kia đêm tĩnh mịch, không gian thật yên lắng, chắc mọi người cũng nghỉ tay để ngày mai tiếp tục làm việc lo cho đoàn đi khai thác mỏ đồng. Chỉ còn hai ngày nữa họ sẽ lên đường. Ðúng vậy chỉ còn hai ngày nữa Ðại-Hùng sẽ lên đường!

 

o0o

 

Tính ra đoàn người đi khai thác mỏ đồng đã rời thôn Cổ- Lệ hơn ba tháng. Ða số người đi đều là tráng niên, cũng có một số vị lớn tuổi. Tổng cộng cả thảy hơn trăm người. Họ chia ra thành từng nhóm, nối đuôi nhau, đi theo những chiếc xe thồ chở lương thực và vật dụng. Lòng đã quyết, bước chân sỏi đá không sờn, họ cố sức đi ngày đêm không để bị chậm trể. Nhờ Ðại-Hùng đi trước dẫn đường, nên hành trình lần này mau hơn. Tuy vậy họ vẫn trãi qua nhiều cam go khó khăn. Mới đầu người còn khỏe, thời tiết còn dễ chịu, họ đi nhanh, nhưng sau đó cái nắng gay gắt ban ngày và cái lạnh cóng rét ban đêm khiến cho nhiều người mệt mỏi, nhuốm bệnh. Khi gặp quãng đường bằng phẳng họ leo lên lưng ngựa, lừa hoặc xe bò, xe ngựa để đi. Khi gặp đường gập ghềnh cheo leo thì họ đi bộ, lôi kéo theo xe ngưạ, xe bò. Nhưng đuờng đi mỗi lúc một khó khăn hơn, họ phải lội qua suối, qua sông, vượt qua núi và rừng rậm, vạch lá, chặt cây rừng.

Thời tiết lại thay đổi, sau hai tháng nắng gắt, một sớm trời đổi sang thu, gió thổi lồng lộng, lá cây rừng rơi tả tơi khiến cho lòng người thêm se-thắt nhớ về thôn Cổ-Lệ và người thân. Hết tháng thứ ba qua tháng thứ tư, trời có lúc đổ mưa dầm dề, tất cả mọi người phải khoác lên mình chiếc áo mưa kết bằng cỏ tranh, đầu đội nón rơm, lầm lũi bước đi. Trước mặt họ bóng dáng dãy núi ba vì sừng sững.

Ðoàn người tiếp tục bước đi, hướng về chân núi. Họ vừa tiến vào bìa rừng một cánh rừng, men theo triền dốc thoai thoải, bên cạnh cạnh bờ vực không sâu lắm. Ðường mưa uớt, họ phải đẹp lên cỏ lá đi thật chậm. Như thường lệ Ðại –Hùng đi trước dẫn đường. Lối này chàng đã qua một lần, lúc đó trời không mưa nên đi không quá khó khăn. Nhưng hiện thời sau cơn mưa có một giòng thác nhỏ trên triền đồi chảy xuống, chặng ngang lối đi. Chàng chưa biết tính sao thì:

- Ôi, cứu tôi với, cứu tôi với!

Tính ra đoàn người đi khai thác mỏ đồng đã rời thôn Cổ- Lệ hơn ba tháng. Ða số người đi đều là tráng niên, cũng có một số vị lớn tuổi. Tổng cộng cả thảy hơn trăm người. Họ chia ra thành từng nhóm, nối đuôi nhau, đi theo những chiếc xe thồ chở lương thực và vật dụng. Lòng đã quyết, bước chân sỏi đá không sờn, họ cố sức đi ngày đêm không để bị chậm trể. Nhờ Ðại-Hùng đi trước dẫn đường, nên hành trình lần này mau hơn. Tuy vậy họ vẫn trãi qua nhiều cam go khó khăn. Mới đầu người còn khỏe, thời tiết còn dễ chịu, họ đi nhanh, nhưng sau đó cái nắng gay gắt ban ngày và cái lạnh cóng rét ban đêm khiến cho nhiều người mệt mỏi, nhuốm bệnh. Khi gặp quãng đường bằng phẳng họ leo lên lưng ngựa, lừa hoặc xe bò, xe ngựa để đi. Khi gặp đường gập ghềnh cheo leo thì họ đi bộ, lôi kéo theo xe ngưạ, xe bò. Nhưng đuờng đi mỗi lúc một khó khăn hơn, họ phải lội qua suối, qua sông, vượt qua núi và rừng rậm, vạch lá, chặt cây rừng.

Thời tiết lại thay đổi, sau hai tháng nắng gắt, một sớm trời đổi sang thu, gió thổi lồng lộng, lá cây rừng rơi tả tơi khiến cho lòng người thêm se-thắt nhớ về thôn Cổ-Lệ và người thân. Hết tháng thứ ba qua tháng thứ tư, trời có lúc đổ mưa dầm dề, tất cả mọi người phải khoác lên mình chiếc áo mưa kết bằng cỏ tranh, đầu đội nón rơm, lầm lũi bước đi. Trước mặt họ bóng dáng dãy núi ba vì sừng sững.

Ðoàn người tiếp tục bước đi, hướng về chân núi. Họ vừa tiến vào bìa rừng một cánh rừng, men theo triền dốc thoai thoải, bên cạnh cạnh bờ vực không sâu lắm. Ðường mưa uớt, họ phải đẹp lên cỏ lá đi thật chậm. Như thường lệ Ðại –Hùng đi trước dẫn đường. Lối này chàng đã qua một lần, lúc đó trời không mưa nên đi không quá khó khăn. Nhưng hiện thời sau cơn mưa có một giòng thác nhỏ trên triền đồi chảy xuống, chặng ngang lối đi. Chàng chưa biết tính sao thì:

- Ôi, cứu tôi với, cứu tôi với!

Một tiếng hét thất thanh vang lên, kèm theo đó có tiếng la dây chuyền, từ cuối đoàn người hướng ngược lên phía chàng:

- Ô, dừng lại, dừng lại, cứu người.

Ðại-Hùng vội dừng lại, buộc dây cương ngựa vào gốc cây rồi chạy về hướng có tiếng la. Bác Lạc cũng chạy theo hỏi:

- Có chuyện gì vậy, ai bị gì thế?

- Có người trợt chân té xuống vực, đang nằm dưới kia kìa, có cả một xe bò nữa.

Cả đoàn người bèn xúm lại, thòng dây đưa người xuống kéo kẻ bị nạn lên. Phải mất một thời gian khá lâu họ mới đưa người bị té lên khỏi bờ vực. Nhưng không may người đó đã tắt thở, chiếc xe bò cũng bị gãy nát, đồ đạc văng tứ tung. Sau khi mai táng người xấu số, ai cũng có vẻ mệt mỏi, đau thương. Bác Lạc bèn hỏi con:

- Ðại-Hùng, còn bao xa nữa? Liệu ta có thể dừng chân nghỉ tạm ở đây đêm nay không? Chờ cho mọi người khỏe lại rồi hãy tiếp tục lên đường.

Ðại-Hùng suy nghĩ một chút rồi trả lời:

- Dạ chỉ còn hai ngày đường nữa là mình sẽ ra khỏi cánh rừng này, kế đến mình sẽ tới một thung lũng, có một làng nhỏ của người Mèo. Ðó là chân núi Ba-Vì.

Nghe con nói vậy Bác Lạc liền quyết định:

- Vậy thì mình tạm thời nghỉ chân. Sáng mai tiếp tục đi. Khi tới cái làng nhỏ đó ta sẽ định cư, lập nhà cửa và cho người lên núi đào quặng đồng.

Mọi người nghe bác Lạc thông báo quyết định mới thì tinh thần cảm thấy phấn chấn trở lại. Họ hăng hái tìm chỗ đất bằng, cắm trại nghỉ qua đêm. Ðại-Hùng cũng đi tìm một gốc cây để trú ẩn chờ mai trời sáng.

 

o0o

 

Cuối cùng đoàn người cũng đến được cái làng nhỏ của người Mèo. Trong chuyến đi trước Ðại-Hùng đã tiếp xúc và nói cho họ nghe mục đích của đoàn người sắp đến, nên đám người Mèo không ngạc nhiên chút nào. Ngược lại họ còn nghênh đón, giúp đỡ kẻ mới đến làm lều và nhà để ở. Bác Lạc phân công cho mọi người rất nhanh. Chẳng mấy chốc ai cũng có công việc và phận sự Khi chỗ cư trú đã ổn định bác Lạc bèn cử một nhóm người vạm vỡ, khỏe mạnh theo bác và Ðại-Hùng dọn đường lên sườn núi, đến một bình nguyên khá rộng. Băng qua bình nguyên là một vách núi có trùng trùng điệp những tảng đá lởm chởm, gồ ghề màu xanh đậm. Ðó chính là những quặng đồng lộ thiên lẫn lộn với đá núị Thấy tận mắt mỏ đồng, bác Lạc như trẻ lạc vào tiệm kẹọ Bác vui mừng khôn kể, tha hồ cho bác nấu đúc và chế tạo đồ bác thích.

Và thế là cả trăm người bắt tay ngay vào việc. Người lo trồng cấy thêm lương thực, người lo đốn cây làm củi đốt, người đi đào quặng, kẻ nấu quặng kẻ lo đổ khuôn v.v. Tất cả công việc đều ăn khớp với nhau dưới sự hướng dẫn của bác Lạc.

Chỉ sau nữa năm số lượng binh khí được làm ra rất đáng kể, nào gươm, đao, giáo, mác, phạng, nào xiên, lao, đinh ba, đầu mũi tên. Mỗi món binh khí, con số làm ra lên tới hàng trăm. Ngoài ra bác Lạc còn cho đúc thêm một số nhạc cụ cổ võ tinh thần binh lính như còi, loa, trống, tù-và. Hình như bác thích chế nhạc cụ hơn là binh khí.

Ðại-Hùng cũng làm việc giúp cha không ngừng nghỉ. Chàng đang kiểm tra khí giới và và chuẩn bị cho người tải một số về thôn Cổ-Lệ, để cụ Hàn giao cho triều đình. Nghĩ đến Cổ-Lệ, Ðại-Hùng thấy nhớ Mỵ-Lan khôn nguôi. Không biết giờ này nàng đang làm gì. Tôi nghiệp người con gái, tháng ngày mong mõi chờ đợi người yêu. Tổng cộng thời gian hai lần ra đi, chàng đã xa cách nàng gần hai năm. Chàng mong sao cho nhiệm vụ chóng hoàn thành để chàng sớm về quê gặp lại nàng. Bất chợt chàng nhớ ra một điều, chàng cần gởi theo về cho nàng môt. chiếc gương soi bằng đồng.

- Cha! Cha!, cha đang chế món vật gì vậy?

Ðại-Hùng tìm bác Lạc định nhờ ông làm một cái gương soi bằng đồng để chàng tặng cho Mỵ-Lan, nhưng khi chàng gặp ông thì thấy ông đang cặm cụi "ghè" một miếng đồng tròn như cái mâm.

Nghe tiếng hỏi bác Lạc giật mình ngước nhìn lên, và khuôn mặt nghiêm trọng trả lời:

- Ồ con, cha đang làm một vật mà cha đã thấy trong giấc mộng mấy đêm trước.

- Vật đó như thế nào và giấc mộng ra sao thưa cha?

Ðại-Hùng nghe cha nói hơi lạ nên hỏi. Bác Lạc trầm ngâm một chút rồi nói tiếp.

- Mấy đêm liền cha mơ giấc mơ lạ lắm con à. Cha thấy quân địch đã tràn sang nước tạ Ði tới đâu giặc tàn sát dân lành tới đó. Binh sĩ triều đình không thể nào chống cự nổi phải rút lui, nhưng cuối cùng cũng bị bao vây trong một cái thành. Tình thế quân ta thật nguy khốn. Mơ tới đó cha giật mình tỉnh giấc, lòng kinh sợ không ngủ lại được.

- Rồi sao nữa hả cha? Giấc mơ có liên quan gì đến món vật cha đang làm đâu?

- Có chứ, qua hôm sau, cha lại mơ thấy có cụ già đem đến cho cha một vật có hình thù giống như cái trống đồng và nói rằng cụ là tổ tiên của Lạc Việt. Nước nhà đang lâm nạn, cụ muốn cha chế cái trống đồng đó để có thể giúp giải nguy nước nhà …

Kể Tới đó bác Lạc im lặng một chút trầm ngâm rồi nói tiếp:

- Cha thắc mắc hỏi cụ làm thế nào mà vật đó có thể giúp giải nguy được, thì cụ tổ nói rằng hiện giờ dân tình binh sĩ rất hoang mang và e-sợ khí thế dũng mãnh của giặc. Trống đồng này có uy lực và khả năng làm vang dội âm thanh. Tiếng trống lan đi rất xa, đủ sức kêu gọi tât’ cả con cháu Lạc Hồng hợp quần lại. Cụ tổ cũng dạy rằng trống đồng là biểu tượng cho sự “trốngrỗng” và “hòađồng ”.Khi ta gióng (đánh) trống lên, âm thanh của nó nhắc nhở mọi người Lạc Việt hãy xả Lòng “trống rỗng”, để không còn ganh tị, không sân si hận thù ganh ghét, không sợ hãi đdể mà cùng nhau “hoà đồng” và kết hợp. Mỗi khi ra trận hoặc là khi làm lễ trọng đại, ta hãy đánh lên ba hồi trống nhắc nhở mọi người ý thức về sự “trống rỗng-hoà đồng” đó, cũng như tạo sức mạnh phấn chấn tinh thần cho mọi người. Với sức mạnh đó ta sẽ thắng mọi trở ngại và mọi kẻ Thù gian ác.

Ðại – Hùng à lên một tiếng chợt hiểu. Chàng bèn giúp cha làm chiếc trống đồng quan trọng đó. Ban ngày làm bink khí, ban đêm hai cha con hì hục nấu đồng làm chiếc trống đồng như cụ Tổ đã chỉ.

Cơn ác mộng của bác Lạc quả nhiên trở thành sự thật. Cách đó không lâu vua nước Thục ở phương bắc sai sứ giả đem sính lễ sang nước Văn Lang xin cầu hôn công chúa Mỵ-Nương cho con trai mình là Thục-Phán. Nhưng vua Hùng Tuấn Vương (Vua Hùng 18) khước từ không gả con gái Mỵ-Nương. Sau khi sứ giả trở Về báo tin, vua Thục bị bẽ bàng, tức giận, nuôi lòng oán hận khai chiến với vua Hùng. Khi chuyến binh khí thứ nhất, mà Ðại-Hùng gởi về, sắp đến thôn Cổ-Lệ thì nhà Thục đã từ phương Bắc xua quân tràn qua biên giới đốt phá nhà cửa làng mạc. Vua Hùng Tuấn Vương cho tướng đem quân đi dẹp giặc. Hai bên giao tranh một trận tơi bời khốc liệt, bất phân thắng bại. Vua Thục thấy vậy bèn cho thêm quân và vũ khí cung tên kéo sang hổ Trợ cho toán quân trước. Quân lính của Văn Lang phải rút lui chờ thêm viện binh từ thành Phong Châu.

Thành Phong Châu lúc bấy giờ rất khẩn trương, vua Hùng cho vời tất cả quan tướng vào triều để bàn định cách đánh trả giặc ngoại xâm. Sau đó vua ban lệnh động viên tất cả trai tráng trong nước phải tòng quân dẹp giặc. Phù Nguyên là võ tướng được vua giao trọng trách đi thâu gồm binh khí về cho binh sĩ. Phù Nguyên tuân lệnh vua thông báo cho các lò rèn gấp rút giao cho triều đình càng nhiều binh khí càng tốt. Chàng làm việc ngày đêm, thâu nhập và kiểm kê số binh khí đã được đưa tới, nhưng chàng thấy số lượng vẫn chưa đủ. Chàng chợt nhớ đến cụ Hàn ở thôn Cổ-Lệ, đó là nơi cung cấp vũ khí chính yếu. Ðúng vào lúc ấy chàng được tinh cấp báp, vua nhà Thục dò la biết được những nơi chết tạo vũ khí ở Văn Lang, nên đã cho nhiều dũng sĩ thiện chiến đi phá hoạị Ðã có nhiều lò rèn bị dũng sĩ nhà Thục đốt phá và tàn sát những người thợ rèn. Phù-Nguyên nghe vậy vội cấp tốc, thân hành đem theo một đoàn binh sĩ võ nghệ cao cường, ngày đêm đi đến Cổ-Lệ để bảo vệ Dọc đường chàng gặp một vài nhóm dũng sĩ địch đánh phá các lò rèn nhỏ, và chàng đã đánh nhau với họ

Tin binh lính của vua Hùng đánh nhau với binh lính nhà Thục lan truyền đến tận thôn Cổ-Lệ Khí thế quân địch rất mạnh khiến cho dân làng hoang mang. Nhưng họ hoàn toàn không hay biết gì về tin vua Thục cho dũng sĩ đi tiêu hủy các nơi sản xuất vũ khí. Cụ Hàn và Mỵ Lan vừa nhận được số binh khí đợt đầu của Ðại Hùng gởi về. Cụ Bèn kêu dân làng phụ bỏ vũ khí vào kho, định hôm sau giao cho triều đình. Mỵ Lan sung sướng nhận lấy chiếc gương đồng do người tải vũ khí trao lại.

Nhưng vừa lúc mọi người đang bận rộn cất vũ khí vào kho thì trên con lộ chính dẫn vào làng có tiếng rầm rập một đoàn kỵ mã chạy ào ạt vào phía cổng làng. Ðám chó trong làng sủa vang lên ầm ỉ:

- Dân làng, tất cả hãy về nhà, phòng có biến!

Cụ Hàn chưa nhìn rõ ra đám kỵ Mã là ai nhưng cũng hô hoán cho dân làng chuẩn bị ứng phó. Dân làng Cổ-Lệ xôn xao, rối loạn, chạy tứ tung. Nhưng người cầm đầu đoàn kỵ mã chợt giơ hai tay lên, quơ qua lại, như bảo rằng chớ sợ Mỵ-Lan vừa nhìn ra đó là Phù-Nguyên nên vội nói với cha:

- Thưa cha, không sao đâu, đó là Phù-Nguyên con lão bá Bạch-Vân.

Phù-Nguyên và đoàn kỵ Mã cũng vừa trờ tới. Hết tất cả nhảy xuống ngựa. Họ chào cụ Hàn và Mỵ-Lan. Người nào cũng mặc võ giáp, gươm giáo đầy mình. Phù Nguyên thưa:

- Thưa cụ con cử người đến đây để bảo vệ cho lò đúc binh khí, vì có tin nhiều dũng sĩ Thục sẽ đến đây phá hoại

Cụ Hàn sững sốt quay sang nhìn con gái và nói:

- Thật vậy sao? Nguy rồi, ta phải cho người đi thông báo Ðại-Hùng hay ngay.

Phù-Nguyên không hiểu cụ Hàn định nói gì, xoay nhìn Mỵ-Lan. Nàng vừa nghe tin nét mặt đầy vẻ lo âu, không biết Ðại-Hùng có mệnh hệ gì hay chưa. Nàng vội giải thích cho Phù-Nguyên biết, vì thiếu quặng đồng nên làng Cổ-Lệ phải cho người đến một nơi khác chế tạo vũ khí, và Ðại-Hùng đang ở đó. Phù-Nguyên nghe vậy bèn cử một số tuỳ tùng ở lại bảo vệ thôn Cổ-Lệ Rồi chàng và tất cả số binh sĩ còn lại theo người tải vũ khi đi đến núi Ba-Vì nơi Ðại-Hùng đang ở. Mỵ-Lan quá lo và nhớ Ðại-Hùng nên nhất định đòi đi theo. Phù-Nguyên không chịu, sợ nàng không chịu nổi gian nan, nhưng nhìn ánh mắt van nài của Mỵ-Lan chàng xiêu lòng đành chấp nhận cho nàng theo

Ðã lâu rồi không gặp Mỵ-Lan, nay thấy lại nàng, lòng Phù-Nguyên xao xuyến vô cùng. Sau lần nàng với cụ Hàn đến nhà chàng ở Phong Châu rồi ra về, chàng thầm yêu trộm nhớ mãi Mỵ-Lan. Nhưng nàng đã có ý trung nhân, nên chàng đành chôn kín tình cảm ở trong tâm. Có nàng đi chung, chàng chẳng biết phải giữ như thế nào để ý tứ khỏi lộ ra. Thôi đành, chàng tự nhủ, mặc cho cơn sóng gió tình yêu cứ hành hạ trong tâm.

Và thế là Mỵ-Lan gói ghém hành trang theo Phù-Nguyên lên đường. Họ Phi ngựa như bay. Ðoạn đường như được rút lại, mà lâu qúa vẫn chưa thấy núi Ba-Vì ở đâu. Suốt đoạn đường Mỵ-Lan và Phù-Nguyên trò chuyện rất ít. Có lẽ họ muốn giữ gìn cho nhau. Mặc dầu vậy Phù-Nguyên vẫn ngầm chăm sóc cho My-Lan, như gỉa vờ nhường cho miếng lương thực ngon, hay canh cho nàng ngủ tròn giấc. Mỵ-Lan cảm nhận hết chân tình của Phù-Nguyên. Có đôi khi nàng lén nhìn Phù-Nguyên, và thấy rằng đó là một chàng trai hào khí, đáng thương cảm. Chỉ tiếc rằng nàng đã yêu Ðại-Hùng từ nhỏ nếu không thì … Rồi nàng thốt nhớ đến Ðại-Hùng, không biết Ðại-Hùng giờ này ra sao?

 

o0o

 

Nói đến Ðại –Hùng, lúc đó trời chạng vạng tối, chàng đang cho chuyển số vũ khí mới làm bỏ vào cái chòi chứa. Cói chòi chất đầy cứng số vũ khí đã làm mấy tháng nay. Chàng gật đầu thầm nhủ, có lẽ đã đủ số. Nghĩ vậy chàng bèn đi tìm cha để thông báo. Chàng đi tới cái chòi của bác Lạc, ông đang ngồi trước chòi, trầm ngâm nhìn vào cái trống đồng, tuyệt tác phẩm của ông. Cái trống đã làm xong thật đẹp. Toàn thân trống ánh lên màu kim loại đỏ. Ðỏ là màu của chất đồng được tôi luyện kỷ dưới sức nóng của lửa. Màu đỏ kim loại, phản chiếu ánh sáng của bếp lửa gần đó khiến cho cái trống đồng như rực lên ánh hào quang.

Các đường nét và hình ảnh mà bác Lạc đã chạm trổ sâu trên mặt trống và trang trống như đang linh động, nhảy múa, làm cho cái trống thêm vẻ huyền bí. Trên mặt trống là hình ngôi sao mười bốn cánh. Chung quanh ngôi sao này là mười sáu vòng đồng tâm, có trang trí nhiều hình kỷ Hà và các hình vẽ khác nhau như hình nhà sàn mái cong trong có người tóc dài (có lẽ là cụ Tổ ) đang ngồi, hình nhà mái tròn có người cầm kiếm, hình chim Lạc đang bay, hình đàn hươu. Trên phần tang trống chỗ phình ra thì có khắc hình thuyền trên có những người cầm lao, kiếm, cung, rìu và lá chắn (cái khiên) như đang chuẩn bị chiến đấu.

Ðại-Hùng tiến lại gần bác Lạc mà bác vẫn không hay. Bác đang nhíu mày tập trung suy nghĩ điều gì dó có vẽ khúc mắc lắm, quên chú ý cả mọi việc chung quanh. Ðại-Hùng lên tiếng hỏi:

- Cha! Cha đang suy nghĩ gì mà dữ vậy?

- À con, cha đang suy nghĩ về cái trống. Cha đã làm xong cái trống mấy ngày hôm nay, nhưng có điều lạ là cha đã đánh thử vào cái trống mà nghe tiếng trống chẳng có uy lực gì cả. Âm thanh rất tầm thường. Cha thắc mắc không biết tại sao, hình như có điều gì đó không đúng.

Ðại-Hùng nghe cha nói vậy bèn lấy cái dùi bọc da trâu để gần đó đánh thử lên mặt trống ba cái:

- Binh…Binh…Binh

Ba tiếng trống ngắn và gọn phát ra, âm thanh đi không xa lắm, uy lực rất tầm thường. Ðại-Hùng chẳng thấy chiếc trống có gì lạ, và cũng có thắc mắc như cha mình. Thấy con nhíu mày suy nghĩ bác Lạc nói tiếp:

- Ðêm qua cha lại thấy cụ Tổ xuất hiện nói rằng muốn trống có uy-lực thì phải bỏ “tâm huyết” vào. Cha nghe mà không hiểu ý của cụ là gì? Tâm huyết là sao?

Bác Lạc vừa nói dứt lời đột nhiên có tiếng la thất thanh và tiếng báo động:

- Á … á, chết tôi rồi!

- Có biến! có biến! Có kẻ lạ Ðột nhập! Có kẻ Lạ!

Bác Lạc và Ðại-Hùng chưa kịp phản ứng thì bất thình lình có mấy bóng đen từ xa giương cung bắn tên tới. Tên bay như sao chớp. “Phập”… “phập”

- Ối, chết tôi!

Bác Lạc la lên mấy tiếng, tay ôm ngực, một mũi tên cắm vào tim bác.

Bác Lạc tắt thở ngã gục xuống, đè người lên cái trống, máu chảy lênh láng tràn lên mặt trống. Ðại-Hùng cũng bị một mũi tên cắm vào bã vai tráị Nhưng chàng thấy cha bị nạn, quên cả đau, lao mình tới đỡ cha dậy. Chàng vội cúi xuống nhìn vết thương của cha. Lúc chàng cúi xuống không thấy rằng cái trống đồng tự nhiên rực lên một ánh sáng xanh chói lọi, dị kỳ và máu của bác Lạc khô biến đi lập tức. Ðại-Hùng ngẩng đầu lên, một mũi tên nữa bay tới, chàng ôm bác Lạc lao đi chỗ khác. Mũi tên phóng thẳng vào cái trống đồng.

- “Buuùung”!

Một tiếng kêu như sấm nổ từ cái trống phát ra vang dội. Uy-lực âm thanh tiếng trống giống như giông bảo xoáy vào không gian, sức ép của nó làm cho đồ đạc chung quanh rung chuyển. Mấy bóng đen vừa nghe tiếng trống như sấm động thì đừng cung tên lại ngơ ngác, e-ngại. Ðại-Hùng nghe tiếng trống uy-dũng quá liền cầm dùi đánh liên hồi vào mặt trống.

- “Bùng! Bùng! Buùùunnng!”

Một tràng âm thanh nữa phát ra, uy lực không kém tiếng trống đầu tiên. Nghe tiếng trống tinh thần của Ðại-Hùng phấn chấn và quật cường hơn. Chàng bèn rút đao cùng với những người đi khai thác đồng, cũng vừa kéo tới sau khi nghe tiếng trống, xông vào các bóng đen quyết một phen tử chiến với họ Nhưng Ðại-Hùng không ngờ rằng có cả trăm bóng đen khác từ các tàng cây chung quanh phi mình xuống hợp bầy với những tên áo đen dưới đất đánh cháu kịch liệt với chàng. Quả là một phen hổn chiến, ánh đao vung lên loang loáng, tiếng rên la cuả người bị thương vang trời. Tất cả các bóng đen đều có võ nghệ cao cường. Ðãa có mấy người khác thác đồng gục ngã, máu từ vết thương chảy ra lênh láng. Nhưng Ðại-Hùng và các bạn vẫn quyết chiến cho đến cùng để baỏ vệ kho vũ khí …

Trời bắt đầu hừng sáng, Phù Nguyên, Mỵ-Lan và đoàn kỵ mã vừa tới sát chân núi Ba-Vì. Cả đoàn đang giựt cương ngựa phóng nước đại thì nghe một tràng âm thanh lạ kỳ từ chân núi vang dội tới. Người tải vũ khí đưa mắt nhìn về hướng có âm thanh lạ thì thấy nơi đó đang có lửa cháy rực lên:

- Chết rồi, trại chế vũ khí đang có biến, những người ở đó đang gặp nạn.

Phù-Nguyên nghe vậy liền hối thúc quân lính của mình lao nhanh về phía lửa cháy. Vừa tới nơi quân cuả Phù-Nguyên xông vào giữa trận chiến vung kiếm đánh tới tấp vào những người áo đen bịt mặt để giải cứu Ðại-Hùng. Thủ lãnh của đám áo đen bịt mặt thấy có quân lính triều đình xuất hiện đông đảo thì liền thổi một tiếng còi báo đồng bọn rút lui. Chỉ trong nháy mắt đám người áo đen biến dạng và rừng cây mất hút. Họ đã để lại mấy xác chết nằm la liệt cùng xác cuả những người đi khai thác đồng. Ðại-Hùng bị trúng tên nơi bả vai. Chàng không ngờ tên có tẩm thuốc độc, và đã cố sức đánh địch không để ý, nên giờ chất độc đang ngấm vào tim. Chàng cố lết về phía xác cuả cha đang nằm khuất sau cái trống đồng. Tay chàng nhuộm đầy máu, chàng vịn vào cái trống tựa người.

Mỵ Lan và Phù-Nguyên chạy vội lại phía Ðại-Hùng. Nước mắt cuả Mỵ-Lan ràn rụa, nàng hỏi dồn dập:

- Ðại-Hùng! Ðại-Hùng anh có sao không?

Ðại-Hùng mặt nhăn nhó, một tay ôm vai mình thều thào nói:

- Mỵ Lan! Không ngờ được gặp em lần cuối. Anh không xong rồi. Em hãy về Cổ-Lệ mau, đem hết vũ khí và cái trống đồng về giao cho cha em. Cái trống này quan trọng lắm em phải ráng giữ. Còn anh, anh được gặp em là mãn nguyện lắm...

Hơi thở của Ðại-Hùng mỗi lúc một yếu. Mỵ-Lan ôm lấy thân thể lạnh ngắc của Ðại-Hùng khóc nức nở. Ðại-Hùng chợt với tay nắm lấy Phù-Nguyên và kêu lên:

- Phù-Nguyên!

- Tôi đây, anh hãy nằm yên.

- Tôi muốn nhờ anh một chuyện.

- Anh cứ nói, tôi sẵn sàng.

- Tôi muốn anh bảo vệ cho Mỵ-Lan về tới Cổ- Lệ an toàn và anh hãy thay tôi chăm sóc cho nàng sau này. Anh hãy hứa đi.